CauChuc.comCâu Chúc
Câu đối Tết

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ: đọc kỹ đôi câu đối Tết dân gian quen thuộc nhất

Giải nghĩa từng hình ảnh trong câu đối Tết "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ", vì sao hai vế đối chặt, đọc nó hôm nay ra sao và học gì để tự viết.

Low angle view of a village kitchen table in Ninh Binh on Tet morning, sliced pork jelly, pickled shallots, a square banh chung, blank red paper blurred behind

"Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh" là đôi câu đối dân gian về Tết được người Việt thuộc nhiều nhất. Nó không có tác giả rõ ràng, không dùng chữ Hán, chỉ kể sáu thứ quen trong nhà ngày Tết xưa. Vế trên toàn đồ ăn và vật dán trong nhà, vế dưới là cảnh ngoài sân và món bánh chính của mâm Tết. Đọc xong là thấy cả một cái Tết làng.

Câu ngắn nhưng làm đúng luật: mỗi vế bảy chữ, ngắt nhịp 2/2/3, chữ cuối vế trên thanh trắc ("đỏ"), chữ cuối vế dưới thanh bằng ("xanh"), từng cặp hình ảnh đối nhau về loại và màu. Phần dưới đi qua nghĩa từng thứ, cách soát luật, cách đọc lại câu này khi Tết đã khác xưa nhiều, và một vài câu đối Tết khác trong giai thoại mà người đọc hay hỏi.

Sáu thứ trong câu đối là sáu lát cắt của Tết làng

Thịt mỡ. Ngày thường, nhà nông xưa ít khi có thịt lợn béo. Tết là dịp mổ lợn, chia phần, nấu thịt đông, kho thịt, nên miếng thịt có mỡ trở thành dấu hiệu của sự đủ đầy. Người hôm nay ăn kiêng mỡ, nhưng trong câu đối, chữ này chỉ cái no của một năm làm lụng.

Dưa hành. Hành củ muối chua ăn kèm thịt mỡ, bánh chưng cho đỡ ngấy. Nhà nào cũng muối một vại từ cuối tháng Chạp. Đặt dưa hành cạnh thịt mỡ là cách nói rất đời thường: người làm câu đối biết mâm Tết ăn thế nào cho vừa miệng.

Câu đối đỏ. Câu đối viết mực đen trên giấy hồng điều, dán hai bên cửa hoặc cột nhà. Câu đối nhắc tới chính câu đối, một kiểu tự giới thiệu nhẹ nhàng, cho thấy dán câu đối đỏ từng là việc mặc định của mọi nhà, kể cả nhà không biết chữ thì đi xin hoặc mua của ông đồ.

Cây nêu. Cây tre dựng trước sân, thường từ ngày hai mươi ba tháng Chạp đến mùng Bảy tháng Giêng tuỳ vùng, ngọn treo khánh đất, chuông gió, túi trầu cau. Theo quan niệm dân gian, cây nêu đánh dấu đất có người ở và giữ yên cho nhà ngày Tết.

Tràng pháo. Tiếng pháo giao thừa và pháo mừng sáng mồng Một từng là âm thanh của Tết. Từ giữa thập niên 1990, pháo nổ bị cấm vì gây thương vong và hoả hoạn, nên người trẻ hôm nay biết tràng pháo chủ yếu qua câu đối, phim ảnh và lời kể của ông bà.

Bánh chưng xanh. Bánh gói lá dong, gắn với tích Lang Liêu trong truyền thuyết thời Hùng Vương. Màu xanh của lá đứng cuối câu, đối với màu đỏ của câu đối ở cuối vế trên, khép lại hai vế bằng hai màu quen nhất của Tết.

Vì sao hai vế đối nhau chặt

Một đôi câu đối hay trước hết phải đúng luật. Đặt hai vế cạnh nhau theo từng nhịp sẽ thấy người xưa làm kỹ thế nào, dù câu chỉ là lời quê.

NhịpVế trênVế dướiCách đối
Nhịp 1Thịt mỡ (trắc – trắc)Cây nêu (bằng – bằng)Danh từ đối danh từ; chữ thứ hai trắc đối bằng
Nhịp 2dưa hành (bằng – bằng)tràng pháo (bằng – trắc)Món ăn đối vật dùng; chữ thứ tư bằng đối trắc
Nhịp 3câu đối đỏ (bằng – trắc – trắc)bánh chưng xanh (trắc – bằng – bằng)Danh từ kèm tính từ màu; chữ thứ sáu trắc đối bằng
Chữ cuốiđỏ – thanh trắcxanh – thanh bằngĐúng lệ: vế trên kết trắc, vế dưới kết bằng

Luật quen của câu bảy chữ là "nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh": chữ thứ 1, 3, 5 được tự do, còn chữ thứ 2, 4, 6 của hai vế phải ngược thanh nhau. Đôi câu này giữ đúng cả ba vị trí đó. Về ý, vế trên gom ba thứ trong nhà, vế dưới ba thứ ngoài sân và trên bếp, nên đọc lên vừa cân về âm vừa đủ về cảnh. Đây là lý do nó dễ thuộc: tai người nghe nhận ra nhịp đều trước khi kịp nghĩ về nghĩa.

Màu đỏ, màu xanh và cái Tết của nhà làm ruộng

Nhìn kỹ, cả sáu thứ trong câu đối đều do chính một nhà nông làm ra hoặc kiếm được quanh làng. Con lợn nuôi từ đầu năm, khóm hành trồng ngoài vườn, cây tre chặt làm nêu, lá dong và gạo nếp gói bánh. Ngay cả câu đối đỏ cũng chỉ cần mua tờ giấy và nhờ người biết chữ viết giúp. Câu đối vì thế không tả một cái Tết mua sắm, mà tả cái Tết của nhà tự cung tự cấp sau một năm làm lụng.

Thời điểm cũng khớp. Ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, vụ mùa gặt xong vào khoảng tháng Mười âm lịch, sang tháng Chạp là lúc nông nhàn, người ta mới có thì giờ mổ lợn, muối dưa, dựng nêu, gói bánh. Sáu thứ trong câu đối là thành quả để dành, đem ra dùng trong mấy ngày nghỉ hiếm hoi của cả năm.

Hai màu ở cuối hai vế cũng là hai màu chủ đạo của Tết: đỏ của giấy hồng điều, xác pháo, và xanh của lá dong, lạt giang. Người làm câu không cần giảng về ý nghĩa màu sắc; chỉ đặt chữ "đỏ" và chữ "xanh" ở hai vị trí nặng nhất của câu, người nghe tự thấy bức tranh có màu.

Đọc lại câu đối này khi Tết đã khác

Ba trong sáu thứ của câu đối gần như đã rời khỏi Tết thành phố. Pháo nổ bị cấm từ lâu. Cây nêu chỉ còn ở một số làng, khu di tích, đình chùa hoặc nơi tổ chức Tết cổ truyền cho khách xem. Thịt mỡ thì nhiều nhà đã bớt hẳn vì lo cho sức khoẻ. Vậy mà câu đối vẫn được in lên thiệp, treo ở quán ăn, đọc trong lớp học mỗi dịp cuối năm.

Lý do là câu đối không còn được đọc như một bản liệt kê đồ Tết, mà như một bức ảnh cũ. Người lớn tuổi đọc để nhớ, người trẻ đọc để biết Tết của ông bà từng có những gì. Khi giải thích cho trẻ nhỏ, bạn có thể đi từng chữ: thịt mỡ là món ngày xưa hiếm, dưa hành là món ăn kèm, tràng pháo là thứ nay không còn được đốt, rồi hỏi con xem Tết nhà mình hôm nay có những thứ gì thay vào.

Cũng nên nói với trẻ rằng câu đối không khuyên ai đốt pháo hay ăn nhiều mỡ. Nó ghi lại một thời. Đọc văn hoá cũ một cách tỉnh táo là biết giữ cái đẹp của lời và hiểu cái đã đổi thay của đời sống, thay vì cố dựng lại mọi thứ đúng như câu chữ.

Những câu đối Tết khác trong giai thoại

Ngoài câu dân gian không tên tác giả, sách vở và lời kể còn lưu nhiều giai thoại câu đối Tết gắn với các nhà nho. Điều cần biết trước tiên: phần lớn các giai thoại này được truyền miệng, chép lại muộn, nên câu chữ có nhiều dị bản và việc gán tác giả nhiều khi chỉ là "tương truyền".

Quen nhất có lẽ là đôi câu đối Tết tương truyền của Nguyễn Công Trứ, tả cảnh nghèo mà vẫn ngạo nghễ: "Tối ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa / Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà". Các sách chép không hoàn toàn giống nhau, có bản khác vài chữ, nên khi trích bạn nên ghi rõ "tương truyền" và "theo bản lưu truyền phổ biến".

Giai thoại cũng gán cho Hồ Xuân Hương một đôi câu đối Tết dài, lấy hình ảnh đêm ba mươi khép cửa và sáng mồng Một mở cửa đón xuân. Câu chữ của đôi này được chép khác nhau đáng kể giữa các sách, nên chỉ nên đọc như một giai thoại văn chương. Đặt cạnh câu "Thịt mỡ, dưa hành", bạn sẽ thấy hai lối rất khác: câu dân gian kể sự vật bình thản, còn câu của nhà nho thường chơi chữ, tự trào về cái nghèo và gửi vào đó tính cách người viết.

Dùng câu đối này ngày Tết sao cho hợp

Vì quá quen thuộc, câu đối này hợp với những chỗ cần gợi không khí Tết xưa hơn là chỗ cần lời chúc riêng cho một người.

  • Trang trí góc Tết ở trường, ở quán, ở khu phố: treo cạnh mâm bánh chưng, cành đào để khách nhìn là hiểu chủ đề.
  • Dạy trẻ về Tết cổ truyền: mỗi chữ một hình vẽ, cho trẻ tự xếp thành hai vế rồi đọc to theo nhịp 2/2/3.
  • Phông chụp ảnh Tết: chọn chữ quốc ngữ thư pháp rõ ràng, vế trên đặt bên phải người nhìn theo lối cũ, hoặc theo thói quen chung của nhà bạn.
  • Thiệp gửi người lớn tuổi xa quê: câu đối gợi lại Tết làng thường làm người nhận xúc động hơn một lời chúc chung chung.
  • Không sửa chữ cho "hợp thời": đổi "tràng pháo" thành món khác là phá cả luật thanh lẫn cái hồn của câu. Muốn câu mới, hãy tự soạn đôi khác và ghi rõ là mẫu tự soạn.
  • Ghi nguồn đúng: đây là câu đối dân gian, không gán cho nhà thơ nào.

Học từ câu dân gian để tự làm một đôi kiểu liệt kê

Lối liệt kê sự vật là lối dễ nhất cho người mới tập làm câu đối Tết, vì không cần chữ Hán và không cần ý cao xa. Bạn có thể đi theo các bước sau.

  1. Viết ra mười thứ có thật trong Tết nhà mình năm nay: hoa, món ăn, đồ dùng, việc làm. Chọn ra sáu thứ, chia hai nhóm theo một trục rõ ràng, ví dụ trong nhà và ngoài ngõ.
  2. Đặt mỗi thứ thành cụm hai chữ, riêng cụm cuối ba chữ, có tính từ màu hoặc tính chất để hai vế đối nhau.
  3. Soát chữ cuối: vế trên phải kết bằng thanh sắc, hỏi, ngã hoặc nặng; vế dưới kết bằng thanh ngang hoặc huyền.
  4. Soát chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu của hai vế phải ngược thanh nhau. Sai chỗ nào thì đổi từ đồng nghĩa ở chỗ đó.
  5. Đọc to cả đôi. Nếu vấp ở đâu, nhịp ở đó chưa ổn.

Ví dụ một đôi theo cách trên, cho Tết ở thành phố (mẫu tự soạn): "Hoa đào, mứt bí, ấm trà nóng / Áo mới, phong bao, chậu cúc vàng". Chữ thứ hai "đào – mới", thứ tư "bí – bao", thứ sáu "trà – cúc" đều ngược thanh; chữ cuối "nóng" trắc, "vàng" bằng. Câu không hay bằng câu dân gian, nhưng nó là của Tết nhà bạn, và đó mới là điều đáng quý khi tự viết.

Câu hỏi thường gặp

Câu đối "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ" là của ai?

Đây là câu đối dân gian, không có tác giả được xác định. Một số trang mạng gán cho nhà thơ này hay nhà nho khác nhưng không có nguồn sách đáng tin. Khi trích dẫn, bạn chỉ nên ghi "câu đối dân gian" để khỏi lan truyền thông tin sai.

Vế nào là vế trên, vế nào là vế dưới?

Vế trên là "Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ" vì chữ cuối "đỏ" mang thanh trắc. Vế dưới là "Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh" vì chữ cuối "xanh" mang thanh bằng. Đây là cách nhận biết nhanh nhất với mọi đôi câu đối.

Có bản nào viết khác không?

Bản lưu truyền rộng nhất là bản trên. Đôi khi bạn gặp người đọc đổi thứ tự vài chữ hoặc thay một từ, nhưng những bản ấy thường làm lệch luật thanh. Nếu dùng để in hoặc dạy trẻ, nên giữ đúng bản phổ biến.

Câu đối này có dùng để treo ở bàn thờ được không?

Không hợp lắm. Câu đối thờ thường nói về công đức tổ tiên, giữ nếp nhà và có lời trang trọng. Câu "Thịt mỡ, dưa hành" là câu vui, tả cảnh Tết, hợp với cửa ra vào, phòng khách, góc trang trí hoặc thiệp hơn là chỗ thờ.

Vì sao nhiều người nói câu này đúng luật dù chỉ là lời quê?

Vì hai vế bằng số chữ, chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu ngược thanh nhau, chữ cuối vế trên trắc và vế dưới bằng, từng cụm đối nhau về loại từ. Người làm câu đối dân gian vẫn nghe ra nhạc của tiếng Việt rất tinh, dù họ không học luật thành sách.

Dạy trẻ câu đối này nên bắt đầu từ đâu?

Bắt đầu từ hình ảnh thay vì luật. Cho trẻ xem hoặc vẽ sáu thứ trong câu, hỏi thứ nào nhà mình còn có, thứ nào không còn. Khi trẻ đã thuộc, bạn mới chỉ cho trẻ nghe chữ cuối hai vế khác thanh nhau thế nào.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183