Tết Nguyên Đán năm Đinh Mùi rơi vào thứ Bảy, ngày 6 tháng 2 năm 2027 dương lịch; đêm giao thừa là đêm 5 tháng 2, tức hai mươi chín tháng Chạp vì năm này tháng Chạp thiếu. Câu đối Tết năm này nhiều nhà muốn có hình ảnh con dê, con vật của chi Mùi trong mười hai con giáp theo cách gọi của người Việt. Bài đưa một số đôi câu đối tự soạn đã soát luật, từ bốn đến bảy chữ, kèm cách đổi chữ cho hợp nhà mình.
Con dê là hình ảnh dễ thương nhưng cũng có cái bẫy riêng trong tiếng Việt: chữ "dê" còn mang nghĩa lóng không hay. Phần cuối bài chỉ ra những chữ nên tránh. Bài không bàn năm Mùi tốt hay xấu cho tuổi nào; câu đối Tết là lời mừng xuân, không phải lời đoán vận.
Năm Đinh Mùi trong lịch: Tết ngày nào, treo câu đối khi nào
Năm âm lịch Đinh Mùi bắt đầu từ mồng Một tháng Giêng, tức ngày 6 tháng 2 năm 2027. "Đinh" là thiên can thứ tư, "Mùi" là địa chi thứ tám. Lần gần nhất có năm Đinh Mùi là năm 1967, nghĩa là sáu mươi năm mới gặp lại một lần theo vòng can chi. Năm Mùi gần nhất trước đó là Ất Mùi 2015.
Ngày ông Công ông Táo hai mươi ba tháng Chạp năm Bính Ngọ rơi vào thứ Bảy, 30 tháng 1 năm 2027. Nhiều gia đình dọn dẹp, lau bàn thờ và thay đồ trang trí sau ngày này, nên câu đối Tết thường được dán trong khoảng từ hôm đó đến chiều ngày cuối năm. Cần để ý: tháng Chạp năm Bính Ngọ là tháng thiếu, chỉ có hai mươi chín ngày, nên năm này không có ngày ba mươi Tết. Đêm giao thừa là đêm hai mươi chín tháng Chạp, tức tối thứ Sáu 5 tháng 2. Nhà nào quen hẹn "chiều ba mươi mới dán câu đối" thì năm nay phải làm sớm hơn một ngày.
Nếu bạn đặt viết câu đối ở phố ông đồ hay đặt in, nên chốt câu chữ từ đầu tháng Chạp, tức từ khoảng ngày 8 tháng 1 năm 2027. Những ngày sát Tết, người viết rất đông khách, câu chữ lại hay bị viết vội. Câu đã soát luật từ trước, chép sẵn ra giấy rõ ràng, sẽ giúp người viết làm nhanh và đúng hơn.
Con dê nào hợp đưa vào câu đối Tết
Dê hiền. Trong mắt người nuôi, dê là con vật lành, ăn cỏ, sống theo đàn. Chữ "hiền" đứng cạnh chữ "dê" gợi một năm yên ổn, hợp với nhà có ông bà và trẻ nhỏ.
Dê gặm cỏ non. Hình ảnh đồng cỏ đầu xuân, cỏ vừa lên sau mưa phùn. Đây là hình ảnh mùa vụ, đặt cạnh đồng lúa, vườn rau thì rất tự nhiên.
Đàn dê lên núi. Ở vùng núi phía Bắc và vùng khô hạn Nam Trung Bộ, dê leo núi đá rất giỏi. Hình ảnh này gợi sự bền bỉ, chịu khó, hợp với câu đối cho người đi làm, người trẻ lập nghiệp.
Dê theo đàn về chuồng. Cảnh chiều, cả đàn cùng về một nơi. Đặt cạnh cảnh con cháu về nhà ăn Tết thì thành một cặp đối rất hợp ý.
Chữ "dương". Chữ Hán chỉ con dê đọc là "dương", đồng âm với "dương" là ánh sáng, khí ấm. Từ đây có lối chơi chữ trong hoành phi "Tam dương khai thái", được nói kỹ ở phần dưới.
Mẫu câu đối Tết Đinh Mùi tự soạn
Các câu dưới đây đều là mẫu tự soạn cho bài này, đã soát số chữ, chữ cuối và các chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu. Cột "dùng cho" là gợi ý, bạn có thể đổi.
| Số chữ | Vế trên / vế dưới | Dùng cho |
|---|---|---|
| 4 | Dê hiền cỏ biếc / Xuân ấm nhà vui | Cửa căn hộ, thiệp nhỏ |
| 5 | Dê về đồng cỏ biếc / Én lượn ngõ hoa vàng | Cổng nhà, phông chụp ảnh |
| 7 | Dê gặm cỏ non, đồng lúa mượt / Én đưa nắng mới, ngõ hoa thơm | Nhà ở nông thôn, nhà vườn |
| 7 | Đàn dê lên núi chân không mỏi / Con cháu về nhà Tết rộn vui | Nhà có con cháu đi làm xa về |
| 7 | Dê chăm gặm cỏ đồi xanh mướt / Người quyết theo nghề việc vững vàng | Văn phòng, xưởng, nhà làm nghề |
Lấy đôi thứ ba để soát thử. Vế trên "Dê gặm cỏ non, đồng lúa mượt": chữ thứ hai "gặm" trắc, thứ tư "non" bằng, thứ sáu "lúa" trắc, chữ cuối "mượt" trắc. Vế dưới "Én đưa nắng mới, ngõ hoa thơm": "đưa" bằng, "mới" trắc, "hoa" bằng, "thơm" bằng. Ba vị trí chẵn ngược nhau, chữ cuối trắc đối bằng, đúng luật. Về từ loại, "dê" đối "én" (con vật), "gặm" đối "đưa" (động từ), "cỏ non" đối "nắng mới", "đồng lúa mượt" đối "ngõ hoa thơm".
Tam dương khai thái: hoành phi quen của năm Mùi
"Tam dương khai thái" là câu bốn chữ Hán quen thuộc dùng làm hoành phi ngày Tết. Nghĩa gốc gắn với Kinh Dịch: quẻ Thái gồm ba hào dương ở dưới, ứng với tháng Giêng, khi khí ấm bắt đầu lên, nên "ba dương mở ra quẻ Thái" là cách nói xuân về, mọi sự hanh thông. Câu này dùng được ở bất cứ năm nào.
Riêng năm Mùi, người dùng chữ Hán hay chơi chữ: thay chữ "dương" là khí dương bằng chữ "dương" là con dê, đọc vẫn y hệt. Tranh Tết năm con dê vì thế hay vẽ ba con dê đứng cạnh nhau. Bạn nên biết cả hai cách viết để không ngạc nhiên khi thấy tranh in chữ khác nhau; nếu treo cho người đọc được chữ Hán, cách viết gốc là khí dương vẫn trang trọng hơn.
Khi treo, hoành phi đặt ngang phía trên đôi câu đối. Hoành phi chữ Hán đọc từ phải sang trái; nhiều tấm in ngày nay để chữ quốc ngữ "Tam dương khai thái" đọc từ trái sang phải. Chỉ cần thống nhất với câu đối bên dưới: câu đối chữ Hán thì hoành phi chữ Hán, câu đối quốc ngữ thì hoành phi quốc ngữ, như "Xuân an khang" hay "Năm mới bình an" do bạn tự chọn.
Tự đổi chữ trong mẫu cho hợp nhà mình
Mẫu sẵn chỉ là khung. Câu đối hay nhất là câu nhắc đến chuyện thật của nhà bạn. Cách đổi an toàn:
- Giữ nguyên vế có con dê, chỉ sửa vế kia theo chuyện nhà: con cháu đi xa về, nhà mới, vườn mới, cháu mới ra đời.
- Thay từ nào thì thay bằng từ cùng thanh. Ví dụ "Tết rộn vui" muốn đổi thành "Tết sum vầy" thì chữ "sum" bằng sẽ phá đối với chữ "không" ở vế trên; phải tìm chữ trắc như "rộn", "đủ", "thật".
- Đếm lại số chữ hai vế sau khi sửa. Lỗi hay gặp nhất là sửa một vế dài thêm một chữ mà quên vế kia.
- Đọc to hai vế. Nếu nghe như hai câu rời nhau thì ý chưa đối, cần đổi tiếp.
- Ghi lại bản cuối ra giấy, đánh dấu vế trên, vế dưới trước khi đem đi viết hoặc in.
Ví dụ một nhà vừa có cháu nội đầu lòng muốn sửa vế dưới của đôi "Đàn dê lên núi chân không mỏi" thành "Ông bà bế cháu Tết thêm đầy". Đếm lại: bảy chữ, chữ cuối "đầy" bằng, tưởng là ổn. Soát tiếp mới thấy sai cả ba vị trí chẵn: "bà" bằng trùng "dê" bằng, "cháu" trắc trùng "núi" trắc, "thêm" bằng trùng "không" bằng. Sửa thành "Cháu nội chào đời, Tết rộn vui" thì "nội" trắc, "đời" bằng, "rộn" trắc, đúng hết. Soát như vậy mất vài phút nhưng tránh được câu đối treo cả tuần mà sai luật.
Đi từ một ý đến một đôi câu năm Mùi
Câu "Đàn dê lên núi chân không mỏi / Con cháu về nhà Tết rộn vui" trong bảng không bắt đầu từ chữ, mà từ một ý: năm qua người trong nhà đi làm xa, vất vả, Tết mới về đông đủ. Việc đầu tiên là tìm một hình ảnh của con dê khớp với ý ấy. Dê leo núi đá bền bỉ, đi cả ngày không nghỉ, giống người đi làm ăn xa. Thế là có cặp ý: dê lên núi, con cháu về nhà.
Bước thứ hai là đặt mỗi ý vào khuôn bảy chữ, nhịp 4/3. Vế trên: "Đàn dê lên núi" là bốn chữ đầu, ba chữ sau tả sự bền bỉ, "chân không mỏi". Vế dưới: "Con cháu về nhà" đối từng chữ với "Đàn dê lên núi" (người đối con vật, về đối lên, nhà đối núi), ba chữ sau tả niềm vui ngày Tết. Thử "Tết sum vầy" trước, nhưng chữ thứ sáu "sum" bằng lại trùng với "không", nên đổi thành "Tết rộn vui".
Bước cuối là đọc to với người trong nhà. Nếu ai nghe cũng hiểu ngay câu nói về chuyện gì thì câu đã được. Câu đối tự soạn không cần chữ đẹp như sách; cần đúng luật, rõ ý và nói đúng chuyện của nhà mình.
Những chữ nên tránh khi viết câu đối năm Mùi
Câu đối dán ở cửa, ai đi qua cũng đọc. Vài chữ tưởng vô hại lại dễ khiến người đọc cười hoặc chạnh lòng:
- "Dê xồm", "dê cụ", "dê già": trong tiếng lóng, các cụm này chỉ người đàn ông háo sắc. Đừng dùng dù chỉ để tả con vật.
- Chữ "dê" đứng một mình ở cuối vế, nhất là khi câu nói về đàn ông trong nhà: người đọc dễ hiểu sang nghĩa lóng.
- Lời phán theo tuổi: "tuổi Mùi năm nay gặp hạn", "năm tuổi phải giữ mình". Câu đối Tết là lời mừng, không phải lá số.
- Lời hứa tài lộc chắc chắn: "năm Mùi phát tài to", "tiền vào như nước". Vừa sáo vừa đặt nặng chuyện tiền lên cửa nhà.
- Chữ Hán tự ghép bằng công cụ dịch: chỉ dùng hoành phi quen như "Tam dương khai thái", "Vạn sự như ý".
- Tên người thật trong câu treo ngoài cửa: dễ thành trò đùa của hàng xóm, nhất là tên trẻ con.
Câu đối Đinh Mùi trên thiệp, tin nhắn và phông chụp ảnh
Nhiều người không treo câu đối giấy mà gửi câu đối qua thiệp điện tử, tin nhắn hoặc dựng phông chụp ảnh ở công ty. Câu đối trên màn hình điện thoại nên ngắn: bốn hoặc năm chữ mỗi vế là vừa một dòng, không bị ngắt giữa chừng. Đôi "Dê hiền cỏ biếc / Xuân ấm nhà vui" hay "Dê về đồng cỏ biếc / Én lượn ngõ hoa vàng" hợp với cách dùng này.
Trên thiệp hoặc tin nhắn, hãy viết vế trên ở dòng đầu, vế dưới ở dòng sau, để người đọc không phải đoán. Trên phông ảnh dựng đứng thì làm như câu đối thật: vế trên bên phải người nhìn, vế dưới bên trái, hoặc theo thói quen chung của cả đơn vị miễn là cả năm thống nhất.
Nếu gửi cho người lớn tuổi, bạn có thể kèm một lời chúc riêng sau câu đối, nhắc một chuyện thật của năm qua. Câu đối tạo không khí Tết, còn lời chúc mới là phần dành riêng cho người nhận.
Câu hỏi thường gặp
Tết Đinh Mùi 2027 là ngày nào dương lịch?
Mồng Một Tết Đinh Mùi là thứ Bảy, ngày 6 tháng 2 năm 2027. Đêm giao thừa là tối 5 tháng 2, tức đêm hai mươi chín tháng Chạp năm Bính Ngọ, vì tháng Chạp năm đó là tháng thiếu. Ngày ông Công ông Táo hai mươi ba tháng Chạp là thứ Bảy, 30 tháng 1 năm 2027.
Năm Mùi ở Việt Nam là con dê hay con cừu?
Người Việt gọi chi Mùi là con dê. Ở một số nước trong vùng, chữ Hán của chi này được hiểu là cừu hoặc dê tuỳ nơi. Câu đối Tết ở ta nên dùng hình ảnh con dê cho gần gũi, nhưng tranh có hình cừu cũng không sai về văn hoá.
Câu đối Tết năm Mùi có bắt buộc phải nhắc con dê không?
Không. Rất nhiều nhà vẫn treo câu đối Tết quen thuộc không nhắc con giáp, như các câu chữ Hán về xuân và phúc. Nhắc con dê chỉ là cách làm câu đối có dấu ấn riêng của năm, tiện cho thiệp và phông ảnh.
Tam dương khai thái viết chữ "dương" nào mới đúng?
Cách viết gốc là chữ dương chỉ khí dương, gắn với quẻ Thái và tháng Giêng. Cách viết chữ dương là con dê là lối chơi chữ dùng trong năm Mùi. Treo nơi trang trọng thì dùng cách gốc, trên tranh vui năm con dê thì dùng lối chơi chữ cũng được.
Câu đối Đinh Mùi dùng tiếp cho năm Mùi sau được không?
Câu chỉ nói về con dê thì dùng lại được ở năm Mùi nào cũng hợp. Câu có nhắc chữ "Đinh" hoặc sự kiện riêng của năm thì chỉ hợp năm đó. Năm Mùi kế tiếp sau 2027 là năm Kỷ Mùi 2039.
Có nên viết câu đối năm Mùi gửi người tuổi Mùi?
Có thể, nếu câu vui và hiền như những mẫu trong bài. Tránh mọi câu nói tới năm tuổi, hạn hay sao xấu, vì người nhận có thể chạnh lòng. Muốn gửi lời riêng thì thêm một lời chúc sức khoẻ, công việc bên dưới câu đối.