Câu đối là một cặp câu đi liền nhau, gọi là hai vế, có số chữ bằng nhau và đối nhau từng chữ: thanh bằng đối thanh trắc, danh từ đối danh từ, động từ đối động từ, ý vế này đáp lại hoặc soi chiếu ý vế kia. Đọc riêng một vế thì thấy thiếu; đặt hai vế cạnh nhau mới thành một câu trọn vẹn. Chính sự cân xứng đó làm nên cái thú của câu đối, khiến nó được treo ở cột đình, hai bên bàn thờ, cổng nhà ngày Tết, trong đám cưới và cả đám tang.
Người Việt quen với câu đối từ trước khi biết gọi tên nó. Câu dân gian “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” là một đôi câu đối, và trong chính nó đã có chữ “câu đối đỏ”, tức đôi câu đối viết trên giấy hồng điều treo ngày Tết. Bài này đi từ gốc: câu đối gồm những phần nào, từ đâu mà có, đến Việt Nam rồi đổi khác ra sao, và vì sao một thể văn chỉ hai dòng lại sống dai đến vậy.
Một đôi câu đối gồm những phần nào
Thành phần cốt lõi là hai vế. Vế thứ nhất gọi là vế trên (có sách gọi là vế ra, vế xuất), vế thứ hai là vế dưới (vế đối). Cách nhận biết đơn giản nhất nằm ở chữ cuối: theo lệ thường, vế trên kết bằng một chữ thanh trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng), vế dưới kết bằng một chữ thanh bằng (không dấu hoặc dấu huyền). Ở câu “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, chữ “đỏ” mang dấu hỏi là thanh trắc, chữ “xanh” không dấu là thanh bằng, nên vế có chữ “đỏ” là vế trên.
Khi treo ở nơi trang trọng, câu đối thường đi cùng một bức chữ ngang đặt ở giữa, phía trên, gọi là hoành phi. Hoành phi thường chỉ ba hoặc bốn chữ, nói cái ý chung mà hai vế triển khai. Ba thứ hợp lại thành một bộ: hai vế dọc hai bên, một bức ngang ở trên, giống một khung cửa bằng chữ.
Tiếng Việt có nhiều tên gọi cho câu đối tuỳ chất liệu và cách treo. Đối liên là cách gọi theo chữ Hán. Liễn thường chỉ câu đối viết trên giấy hoặc vải, cuộn lại được. Câu đối gỗ khắc hoặc sơn son thếp vàng treo ở cột nhà, cột đình, nhiều nơi gọi là câu đối cột hay doanh. Tên gọi khác nhau theo vùng, nhưng bản chất vẫn là một cặp câu song song đối nhau.
Về độ dài, câu đối không có giới hạn cố định. Có đôi chỉ bốn chữ mỗi vế như “Phúc như Đông Hải / Thọ tỷ Nam Sơn” quen thuộc trong lễ mừng thọ; có đôi bảy chữ như một câu thơ; có đôi dài hàng chục chữ chia thành nhiều đoạn. Điều bất biến là hai vế phải dài bằng nhau và ngắt nhịp giống nhau.
Từ đâu mà có: bùa gỗ đào và câu đối Tết
Câu đối bắt nguồn từ văn chương chữ Hán. Lối văn biền ngẫu, tức viết từng cặp câu song song cân xứng, đã có trong văn Trung Hoa từ rất sớm; thơ luật đời Đường lại đặt ra yêu cầu hai câu giữa bài phải đối nhau. Câu đối có thể xem là cặp câu đối được tách ra, đứng độc lập, rồi dần có đời sống riêng.
Về phong tục, sách vở Trung Hoa hay kể chuyện đào phù: ngày Tết, người ta treo hai tấm gỗ đào hai bên cửa, trên vẽ hoặc viết tên hai vị thần giữ cửa, với niềm tin dân gian là để giữ yên nhà cửa. Dần dần, chữ viết trên hai tấm gỗ chuyển thành hai câu chúc đối nhau. Nhiều sách dẫn lại tương truyền rằng vua Mạnh Sưởng nước Hậu Thục thời Ngũ Đại, khoảng thế kỷ thứ mười, đã đề một đôi câu lên đào phù, và coi đó là một trong những câu đối Tết sớm nhất còn được ghi lại. Chuyện này thuộc loại giai thoại sử sách, người nghiên cứu vẫn coi là tương truyền.
Từ đôi câu treo cửa ngày Tết, câu đối mở rộng ra mọi dịp: mừng thọ, mừng cưới, viếng tang, đề ở đình chùa, cung điện, thư phòng. Giấy hồng điều thay cho gỗ đào, chữ viết bằng bút lông thay cho hình vẽ, và câu đối trở thành một thể văn mà người học chữ nào cũng phải luyện.
Điều đáng nhớ ở đây là câu đối ra đời từ hai nhu cầu cùng lúc: nhu cầu chơi chữ của người có học và nhu cầu bày tỏ lời chúc, lời cầu mong của mọi gia đình vào những dịp quan trọng. Vì gắn với cả hai, nó vừa là văn chương, vừa là phong tục.
Câu đối đến Việt Nam và đổi khác thế nào
Câu đối vào Việt Nam theo con đường chữ Hán và nền giáo dục khoa cử. Trong lối học xưa, học trò phải tập đối từ nhỏ: thầy ra một vế ngắn, trò đối lại, rồi dài dần. Luyện đối là luyện vốn chữ, luyện tai nghe thanh điệu và luyện cách nghĩ theo cặp đối xứng, những thứ cần cho làm thơ, làm phú và văn bài thi. Vì thế người Việt có học thời trước hầu như ai cũng làm được câu đối ở mức tối thiểu.
Khi chữ Nôm phát triển, câu đối bắt đầu được viết bằng tiếng Việt. Câu đối Nôm đưa vào những chữ thuần Việt, thành ngữ, tiếng lóng, cả lối nói lái và chơi chữ đồng âm mà chữ Hán không làm được. Nhiều đôi câu đối Nôm tương truyền của các nhà nho nổi tiếng được người đời truyền miệng vì cái duyên của chữ nghĩa, đôi khi kèm giai thoại mà sử sách không xác nhận được.
Sang thế kỷ hai mươi, chữ quốc ngữ thay chữ Hán và chữ Nôm trong đời sống. Câu đối chuyển sang viết bằng chữ quốc ngữ, kể cả viết bằng bút lông theo lối thư pháp. Hình ảnh ông đồ ngồi phố viết câu đối đỏ ngày giáp Tết, rồi lớp người viết thư pháp chữ Việt sau này, cho thấy câu đối vẫn sống, chỉ đổi chữ viết.
Ngày nay, câu đối chữ Hán vẫn rất phổ biến ở bàn thờ gia tiên, nhà thờ họ, đình chùa, vì người ta coi trọng sự trang nghiêm và tính truyền thống. Câu đối quốc ngữ thì thắng thế ở những dịp gần gũi: Tết trong nhà, đám cưới, mừng thọ, khai trương, nơi người đọc cần hiểu ngay câu chữ.
Câu đối có mặt ở đâu trong đời sống
Bảng dưới gom những nơi câu đối thường xuất hiện. Chất liệu và cách treo khác nhau theo vùng và theo gia đình; đây là bức tranh chung để bạn hình dung.
| Dịp hoặc nơi | Câu đối thường treo ở đâu | Chất liệu hay gặp | Nội dung thường nói về |
|---|---|---|---|
| Tết Nguyên Đán | Hai bên cửa chính, hai bên bàn thờ, cột nhà | Giấy đỏ, giấy hồng điều, vải | Xuân về, nhà yên, phúc lộc, đoàn tụ |
| Bàn thờ gia tiên, nhà thờ họ | Hai bên ban thờ, hai cột trước gian thờ | Gỗ sơn son thếp vàng, gỗ khắc | Công đức tổ tiên, gốc rễ dòng họ, đạo hiếu |
| Đình, chùa, đền, miếu | Cột trước, cổng tam quan, hai bên gian chính | Gỗ, đá, vữa đắp nổi | Ca ngợi vị được thờ, cảnh sắc, lời răn |
| Mừng thọ | Phông lễ mừng, hai bên chữ Thọ | Giấy đỏ, vải, gỗ làm quà | Sống lâu, con cháu đông vui, phúc đức |
| Đám cưới | Cổng cưới, phông, hai bên chữ Song Hỷ | Giấy đỏ, vải, in trên phông | Duyên lành, hoà thuận, nối dõi |
| Đám tang | Hai bên linh sàng, trên trướng phúng | Vải trắng, giấy, trướng | Thương tiếc, công đức người mất |
| Nhà mới, cửa hàng | Hai bên cửa, quầy, phòng khách | Giấy, gỗ, tranh chữ | An cư, làm ăn ngay thẳng, hưng thịnh |
Nhìn bảng sẽ thấy một điều: câu đối gắn với những khoảnh khắc người ta muốn nói một điều trang trọng mà ngắn gọn. Một bài văn dài thì không ai treo ở cửa; hai dòng cân xứng thì vừa đủ để đọc lướt qua mà vẫn nhớ.
Câu đối khác thơ, khác lời chúc, khác ca dao ở chỗ nào
Câu đối gần với thơ vì cùng dùng thanh điệu và nhịp, nhưng thơ cần vần còn câu đối không cần. Hai vế câu đối không bắt vần với nhau; thứ nối chúng là sự đối xứng. Ngược lại, thơ lục bát hay thơ bảy chữ có thể không đối câu nào mà vẫn là thơ hay. Người mới hay nhầm khi cố gieo vần cho hai vế câu đối, kết quả là chữ cuối hai vế cùng thanh bằng, mất luôn cái luật căn bản nhất.
Câu đối cũng khác lời chúc thường. Một lời chúc có thể dài, tự do, nói theo cảm xúc; câu đối phải gói ý trong khuôn hai vế bằng nhau. Nhiều câu đối mừng thực chất là lời chúc được nén lại, nhưng chính cái khuôn làm nó trang trọng hơn, đủ để treo lên tường thay vì chỉ nói miệng.
Với ca dao, ranh giới mờ hơn. Có những câu dân gian vừa là ca dao vừa là câu đối, vì người bình dân cũng thích lối nói cân xứng. Cách phân biệt thực tế là xem hai vế có tách bạch, bằng số chữ và đối nhau từng chữ hay không. Câu “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” đáp ứng đủ, nên được coi là câu đối dù nguồn gốc của nó là dân gian.
Cuối cùng, câu đối khác khẩu hiệu ở chiều sâu chữ nghĩa. Khẩu hiệu nói thẳng một thông điệp; câu đối hay thường có tầng nghĩa thứ hai, một hình ảnh gợi ra điều không nói hết, và người đọc phải dừng lại một nhịp mới thấy.
Những hiểu lầm thường gặp về câu đối
“Câu đối là thứ của người xưa, chỉ viết bằng chữ Hán.” Câu đối chữ Nôm và chữ quốc ngữ là một dòng chảy dài, nhiều đôi câu đối quen thuộc nhất với người Việt hôm nay được viết bằng tiếng Việt thuần.
“Hai vế chỉ cần cùng ý là được.” Cùng ý mới là một phần. Câu đối còn đòi bằng số chữ, đối thanh ở những vị trí then chốt và đối từ loại. Hai câu cùng ý mà không đối thì chỉ là hai câu văn đứng cạnh nhau.
“Treo vế nào bên nào cũng được.” Thứ tự đọc quyết định nghĩa. Theo lệ chữ Hán đọc từ phải sang trái, vế trên đặt bên phải người đứng xem. Câu đối quốc ngữ có nơi làm khác, nhưng điều cần giữ là nhất quán với chiều đọc của hoành phi.
“Câu đối nào treo lên cũng đem lại điều tốt.” Câu đối là lời chúc, lời nhắc, lời ca ngợi bằng chữ. Ý nghĩa của nó nằm ở chữ nghĩa và ở tấm lòng người treo, không phải một vật đem lại may mắn. Nói như vậy không làm câu đối kém đi; nó giúp bạn chọn câu theo nội dung thay vì theo lời quảng cáo.
“Câu đối nổi tiếng nào cũng có tác giả rõ ràng.” Nhiều đôi câu đối gắn tên các danh sĩ chỉ là tương truyền, có khi một câu được gán cho hai ba người khác nhau. Khi trích, bạn ghi “tương truyền” là cách cẩn trọng.
Bắt đầu tìm hiểu câu đối từ đâu
Nếu bạn muốn hiểu câu đối kỹ hơn, hoặc tự làm một đôi để treo trong nhà, thứ tự sau giúp đỡ vấp:
- Nắm luật đối: bằng số chữ, đối thanh, đối từ loại, đối ý. Bốn điều này là nền của mọi thứ khác.
- Tập phân biệt thanh bằng và thanh trắc thật nhanh, đến mức nhìn chữ là biết. Đây là kỹ năng hay bị bỏ qua nhất.
- Đọc chậm những đôi câu đối dân gian quen thuộc, gạch dưới từng cặp chữ đối nhau. Câu Tết “Thịt mỡ, dưa hành…” là bài tập đầu tiên rất tốt.
- Với câu đối chữ Hán ở đình chùa, nhà thờ họ, tìm bản phiên âm và dịch nghĩa đáng tin trước khi tự suy diễn.
- Tự soạn một đôi ngắn bốn chữ mỗi vế về chuyện trong nhà mình, soát thanh từng chữ, rồi mới thử dài hơn.
- Khi muốn treo câu đối làm quà hoặc bày trong nhà, chọn theo nội dung trước, chất liệu sau. Phần đồ vật có thể xem thêm trên Vật Phẩm Phong Thủy.
Câu đối không đòi hỏi bạn phải biết chữ Hán mới chơi được. Nó đòi hỏi một đôi tai nghe được thanh điệu và một chút kiên nhẫn đếm chữ, so từng cặp.
Câu hỏi thường gặp
Một đôi câu đối có bắt buộc phải có hoành phi không?
Không bắt buộc. Hoành phi thường đi cùng câu đối ở nơi trang trọng như gian thờ, đình chùa, cổng lớn. Câu đối Tết dán cửa, câu đối trên thiệp mừng hay câu đối ở đám cưới thường đứng một mình mà vẫn trọn ý. Có hoành phi thì bộ chữ đầy đặn hơn, không có cũng không sai.
Câu đối khác liễn như thế nào?
Liễn là một cách gọi câu đối, thường dùng cho câu đối viết trên giấy hoặc vải, có trục để treo và cuộn lại. Còn câu đối là tên gọi chung theo nội dung văn chương, viết trên chất liệu gì cũng được: gỗ, đá, giấy, vải. Nhiều vùng dùng hai chữ này gần như thay nhau.
Câu đối có bắt buộc phải vần không?
Không. Hai vế câu đối không cần vần với nhau, và thường cũng không thể vần vì chữ cuối vế trên mang thanh trắc còn chữ cuối vế dưới mang thanh bằng. Thứ liên kết hai vế là sự đối xứng về số chữ, thanh điệu, từ loại và ý, không phải vần.
Câu đối ngắn nhất có bao nhiêu chữ?
Không có quy định chính thức. Trong thực tế, câu đối ngắn thường từ bốn chữ mỗi vế, như các đôi chúc thọ quen thuộc. Khi luyện đối cho học trò ngày xưa, thầy có thể ra vế chỉ hai ba chữ để tập. Điều quan trọng không phải độ dài mà là hai vế bằng nhau và đối chặt.
Câu đối có phải chỉ dùng cho dịp vui không?
Không. Câu đối dùng cả trong dịp buồn: câu đối viếng, câu đối phúng điếu treo ở đám tang để bày tỏ thương tiếc và ghi nhận công đức người đã mất. Ngoài ra còn câu đối thờ, câu đối đề cảnh, câu đối tự thuật nói về chí hướng của người viết.
Người không biết chữ Hán có làm được câu đối không?
Làm được. Câu đối chữ quốc ngữ chỉ cần bạn nắm luật đối và phân biệt được thanh bằng, thanh trắc. Nhiều câu đối dân gian quen thuộc nhất đều bằng tiếng Việt thuần. Chỉ khi muốn làm câu đối chữ Hán thì mới cần vốn Hán văn vững, và khi đó nên nhờ người thông thạo xem lại.