Theo dịp dùng, câu đối thường được chia thành mấy loại chính: câu đối Tết, câu đối mừng (thọ, cưới, nhà mới, khai trương, đỗ đạt), câu đối thờ, câu đối viếng hay phúng điếu, câu đối đề cảnh và đề tặng, câu đối tự thuật, và câu đối trào phúng. Mỗi loại có giọng riêng, kho chữ riêng và chỗ treo riêng.
Biết phân loại không chỉ để nói chuyện văn chương. Nó giúp bạn chọn đúng câu cho đúng dịp, tránh cái lỗi đáng tiếc là đem một câu có hình ảnh tiễn biệt đi mừng thọ, hay treo một câu bông đùa ở gian thờ. Bài này đi qua từng loại: nó nói về điều gì, giọng ra sao, chữ nào hay gặp, và dấu hiệu nào giúp nhận ra loại khi bạn gặp một đôi câu đối lạ.
Vì sao phải phân biệt loại câu đối
Câu đối là lời nói trang trọng nhất của người Việt trong những dịp lớn, nên nói sai dịp cũng là thất lễ lớn. Một đôi câu đối viếng có hình ảnh “cưỡi hạc”, “mây trắng”, “nghìn thu” nếu treo trong lễ mừng thọ sẽ khiến cả nhà sững sờ. Ngược lại, câu đối mừng rực rỡ chữ “phúc”, “lộc”, “hỷ” đặt ở đám tang là không hiểu chuyện.
Khó ở chỗ một số hình ảnh xuất hiện ở nhiều loại với nghĩa khác nhau. Chim hạc là ví dụ rõ nhất: “tùng hạc” trong câu đối mừng thọ là hình ảnh sống lâu, thanh thản; “cưỡi hạc” trong câu đối viếng lại là cách nói tránh việc qua đời. Cùng một chữ, đặt cạnh chữ khác thì nghĩa đổi hẳn. Vì vậy không thể chọn câu đối chỉ bằng cách nhặt vài chữ đẹp.
Phân loại còn giúp bạn đọc câu đối ở di tích, nhà thờ họ. Biết đây là câu đối thờ thì bạn sẽ tìm ý về tổ tiên, công đức; biết đây là câu đối đề cảnh thì bạn tìm hình ảnh núi sông, cảnh sắc nơi đó. Việc đọc hiểu nhanh hơn rất nhiều khi bạn biết mình đang tìm gì.
Cách chia dưới đây là cách hay gặp trong sách vở và đời sống. Có những đôi câu đối nằm giữa hai loại, như câu đối Tết treo ở gian thờ, và điều đó hoàn toàn bình thường.
Câu đối Tết và câu đối mừng
Câu đối Tết là loại phổ biến nhất, treo hai bên cửa, hai bên bàn thờ trong những ngày đầu năm. Nội dung xoay quanh xuân về, nhà yên ấm, con cháu sum vầy, mùa màng, làm ăn. Giọng tươi vui, chữ hay gặp là xuân, tân niên, phúc, lộc, an khang. Câu dân gian “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” là đại diện cho lối câu đối Tết thuần Việt, tả cái Tết bằng chính những thứ có trong nhà.
Câu đối mừng dùng cho các dịp vui của một người hay một gia đình. Mừng thọ thì nói sống lâu, phúc đức, con cháu hiếu thảo; câu “Phúc như Đông Hải / Thọ tỷ Nam Sơn” là đôi quen thuộc nhất, ví phúc như biển Đông, thọ như núi Nam. Mừng cưới thì nói duyên lành, hoà hợp, thường đi cùng chữ Song Hỷ ở giữa. Mừng nhà mới nói an cư, nền nếp; mừng khai trương nói làm ăn ngay thẳng, hưng thịnh; mừng đỗ đạt nói học hành, công danh.
Hai loại này có chung giọng chúc tụng, nhưng câu đối mừng gắn với một người, một sự kiện cụ thể nên thường được viết riêng, có lạc khoản ghi người tặng. Câu đối Tết thì gắn với thời điểm chung của mọi nhà, nhiều đôi được dùng lại năm này qua năm khác.
Khi chọn câu đối mừng, điều quan trọng là khớp với người nhận: câu chúc thọ cho cụ tám mươi khác với câu mừng nhà mới cho đôi vợ chồng trẻ. Lời mừng cũng nên chừng mực, tránh những câu hứa hẹn quá đà về giàu sang.
Câu đối thờ và câu đối viếng
Câu đối thờ treo ở gian thờ gia tiên, nhà thờ họ, đình, đền. Giọng trang nghiêm, nội dung nói về công đức tổ tiên, cội nguồn, đạo hiếu và mong con cháu nối dõi. Một đôi chữ Hán rất hay gặp trên ban thờ gia tiên là “Tổ công tông đức thiên niên thịnh / Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh”, đại ý: công đức tổ tông nghìn năm thịnh, con hiếu cháu hiền muôn đời vinh. Đôi này phổ biến đến mức nhiều nhà dùng mà không cần biết ai soạn đầu tiên.
Câu đối thờ thường làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, treo lâu dài, có khi qua nhiều đời. Vì vậy nội dung được chọn kỹ, ít khi đổi. Câu đối thờ ở đình, đền thì nói về vị được thờ, công trạng, cảnh sắc nơi thờ, mỗi nơi một nội dung riêng.
Câu đối viếng, còn gọi là câu đối phúng điếu hay câu đối khóc, dùng trong tang lễ. Người viếng gửi câu đối để bày tỏ thương tiếc và ghi nhận công đức, tình nghĩa của người đã mất. Giọng trầm, chữ dùng tránh nói thẳng cái chết, hay mượn hình ảnh mây, hạc, nghìn thu, núi xa. Câu đối viếng thường viết trên vải hoặc giấy, treo quanh linh sàng trong những ngày tang, sau đó có nơi giữ lại, có nơi hoá đi theo nếp địa phương.
Ngoài câu viếng người khác, văn học Việt còn có những đôi câu đối người còn sống khóc người thân, nổi tiếng nhất là các câu đối khóc vợ, khóc bạn của các nhà nho. Những đôi này đọc như văn chương hơn là nghi lễ, và thường được trích trong sách văn học.
Các loại khác: đề cảnh, đề tặng, tự thuật, trào phúng
Bên cạnh những loại gắn với nghi lễ, câu đối còn là một thể văn để người có chữ bày tỏ cảm xúc, chí hướng hay sự hóm hỉnh. Bảng dưới gom các loại này.
| Loại | Nói về điều gì | Thường thấy ở đâu | Giọng |
|---|---|---|---|
| Đề cảnh | Cảnh đẹp của một nơi: núi, sông, chùa, lầu, vườn | Cổng, cột ở danh thắng, đình chùa, nhà vườn | Trang nhã, giàu hình ảnh |
| Đề tặng | Ca ngợi người được tặng, một tình bạn, một công việc | Quà tặng thầy, bạn, đồng liêu | Trân trọng, kín đáo |
| Tự thuật | Chí hướng, nỗi niềm, lối sống của chính người viết | Thư phòng, sách văn học, giai thoại | Riêng tư, có khi ngạo nghễ |
| Trào phúng | Châm biếm thói đời, chế giễu điều lố | Truyền miệng, sách văn học | Hóm hỉnh, cay |
| Câu đối chơi, đối đáp | Ra vế thử tài, đối lại cho vui hoặc để thắng | Giai thoại, nơi học, hội làng | Tinh nghịch, chơi chữ |
Câu “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, tương truyền của Cao Bá Quát, thường được dẫn như mẫu câu đối tự thuật: người viết nói mình cả đời chỉ cúi đầu trước hoa mai, tức trước cái thanh cao, chứ không trước quyền thế.
Các loại này ít khi được mua sẵn để treo. Chúng là chỗ thể hiện cái tài và cái tình riêng, nên người ta nhớ chúng gắn với tên người viết và với câu chuyện quanh nó.
Nhận loại câu đối qua chữ dùng
Khi gặp một đôi câu đối lạ, đọc lướt những chữ then chốt là đoán được loại khá chính xác. Bảng sau liệt kê chữ và hình ảnh hay gặp, theo cách dùng phổ biến.
| Loại | Chữ, hình ảnh hay gặp | Lưu ý |
|---|---|---|
| Tết | xuân, tân niên, nghênh xuân, phúc, lộc, mai, đào, pháo | Giọng vui, gắn thời điểm đầu năm |
| Mừng thọ | thọ, tùng, hạc, Nam Sơn, Đông Hải, phúc, con cháu | “Tùng hạc” ở đây là sống lâu, không phải tiễn biệt |
| Mừng cưới | duyên, hỷ, loan phượng, cầm sắt, trăm năm | Thường đi với chữ Song Hỷ |
| Nhà mới, khai trương | an cư, gia đạo, hưng, thịnh, khang | Tránh lời hứa giàu sang quá đà |
| Thờ | tổ, tông, công, đức, nguyên, bản, hiếu, vạn đại | Trang nghiêm, treo lâu dài |
| Viếng | thương, tiếc, nghìn thu, mây trắng, cưỡi hạc, non xa | Nói tránh, không dùng chữ mừng |
Bảng chỉ là gợi ý để đọc nhanh. Một đôi câu đối luôn phải hiểu trong toàn câu: chữ “phúc” trong câu đối thờ là phúc đức tổ tiên để lại, khác chữ “phúc” trong câu đối Tết là lời chúc năm mới.
Khi một đôi câu đối nằm giữa hai loại
Ranh giới giữa các loại không phải lúc nào cũng rạch ròi. Câu đối Tết treo ở gian thờ thường nói cả chuyện xuân mới lẫn lòng nhớ tổ tiên, nên vừa mang giọng Tết vừa mang giọng thờ. Câu đối mừng thọ một cụ đồ nho có khi đồng thời là câu đề tặng, ca ngợi cả tuổi thọ lẫn cái học của người được mừng.
Câu đối đề cảnh ở chùa, đền cũng hay pha giọng thờ: tả cảnh núi non, mây nước để nói về sự thanh tịnh hay công đức của nơi đó. Câu đối tự thuật của các nhà nho lại hay pha giọng trào phúng, tự cười mình để nói một nỗi niềm.
Gặp những đôi như thế, cách đọc hữu ích là hỏi: đôi câu đối này được làm ra cho dịp nào, treo ở đâu, ai gửi cho ai. Câu trả lời cho biết giọng chính, còn những lớp giọng khác là phần làm cho nó giàu thêm.
Khi bạn tự chọn hay tự soạn, thì ngược lại, nên giữ một giọng chính rõ ràng. Một đôi câu đối mừng mà chen hình ảnh buồn, hay một đôi câu đối thờ mà xen chữ đùa, rất dễ khiến người đọc hiểu sai lòng mình. Pha giọng là việc của người viết đã thạo; người mới nên chọn một loại và theo cho trọn.
Chọn đúng loại khi mua, xin hay tự viết câu đối
Vài nguyên tắc giúp bạn tránh nhầm loại trong những tình huống thường gặp:
- Mua câu đối in sẵn: đọc kỹ nội dung và bản dịch nghĩa, không chọn theo màu sắc hay kiểu chữ. Câu đối thờ và câu đối Tết bày cạnh nhau ở chợ Tết rất dễ lẫn.
- Xin chữ ở phố ông đồ: nói rõ dịp và người nhận, ví dụ “câu đối Tết cho nhà có ông bà” hay “câu mừng thọ bà tám mươi”, để người viết chọn đúng loại.
- Mang câu đối đi mừng: chọn câu mừng đúng sự kiện; nếu không chắc, câu chúc chung về phúc, an khang an toàn hơn câu có hình ảnh dễ hiểu lầm.
- Gửi câu đối viếng: chỉ chọn câu có giọng thương tiếc, ghi nhận; tránh hẳn những chữ mang sắc thái mừng.
- Treo ở gian thờ: ưu tiên câu đối thờ có nội dung về tổ tiên, cội nguồn; câu Tết treo ở gian thờ trong dịp Tết rồi cất đi là nếp của nhiều nhà.
- Tự soạn: xác định loại trước khi viết chữ đầu tiên. Loại quyết định giọng, giọng quyết định chữ.
Nếu có điều băn khoăn về phong tục riêng của vùng hay của dòng họ, hỏi người lớn tuổi trong nhà vẫn là cách chắc nhất. Câu đối là chữ, nhưng chữ đặt vào đời sống thì phải theo nếp người.
Câu hỏi thường gặp
Câu đối Tết có treo ở bàn thờ được không?
Được, và nhiều nhà làm như vậy trong dịp Tết. Câu đối Tết treo hai bên bàn thờ thường nói về xuân mới và lòng nhớ tổ tiên. Sau Tết, nhiều gia đình gỡ câu đối giấy xuống, còn câu đối thờ bằng gỗ thì treo quanh năm. Theo nếp nhà là được.
Có thể dùng một đôi câu đối cho nhiều dịp không?
Một số câu chúc chung về phúc đức, an khang có thể dùng cho cả Tết và mừng nhà mới. Nhưng câu đối mừng thọ, mừng cưới, câu đối viếng đều gắn với dịp cụ thể, không nên dùng lẫn. Nhất là không bao giờ dùng câu có sắc thái tiễn biệt cho dịp vui.
Câu đối viếng nên viết bằng chữ gì?
Tuỳ người viếng và gia đình người mất. Câu đối viếng chữ Hán vẫn phổ biến ở những gia đình giữ nếp cũ; câu quốc ngữ được dùng ngày càng nhiều vì ai cũng đọc hiểu. Điều quan trọng là lời lẽ trang trọng, chân thành, đúng với tình nghĩa của mình với người đã mất.
Câu đối trào phúng có treo trong nhà không?
Thường thì không. Câu đối trào phúng là một thể văn để đọc và truyền miệng, châm biếm thói đời. Treo trong nhà, nhất là ở nơi tiếp khách hay gian thờ, dễ gây hiểu lầm hoặc làm phật lòng người đọc. Nếu thích, bạn có thể chép vào sổ tay sưu tầm.
Câu đối đề cảnh khác câu đối thờ ở đình chùa như thế nào?
Câu đối thờ nói về vị được thờ, công đức, đạo lý; câu đối đề cảnh nói về cảnh sắc nơi đó, núi sông, cây cỏ, mây trời. Ở nhiều đình chùa, hai loại cùng có mặt: câu thờ ở gian chính, câu đề cảnh ở cổng, ở lầu, ở hiên ngắm cảnh.
Làm sao biết một câu đối mình thấy trên mạng thuộc loại nào?
Đọc chữ then chốt và ý chính, rồi đối chiếu với bảng chữ hay gặp trong bài. Nếu câu chỉ có phần dịch nghĩa mà không rõ nguồn, hãy thận trọng: câu chép trên mạng có thể bị đổi chữ hoặc bị gắn nhầm dịp. Tìm thêm một bản in đáng tin trước khi dùng cho dịp quan trọng.