Câu đối đám cưới là đôi câu treo ở cổng nhà, hai bên phông lễ hoặc gần bàn thờ gia tiên trong ngày cưới, thường đi kèm chữ Song hỷ ở giữa; nhà gái dùng cho lễ vu quy, nhà trai dùng cho lễ thành hôn. Ở thành phố nhiều đám cưới đã bỏ câu đối, nhưng ở nông thôn và trong các gia đình còn giữ nếp, đôi câu đỏ hai bên cổng vẫn là thứ khách nhìn thấy đầu tiên.
Bài này đưa bốn đôi câu mẫu tự soạn: một đôi dùng chung, một đôi riêng cho nhà gái, một đôi riêng cho nhà trai, một đôi cho phông tiệc. Kèm theo là những hình ảnh hay gặp trong câu cưới, những chữ nên tránh và cách đổi chữ cho hợp hai bạn mà không làm gãy luật đối.
Câu đối cưới đặt ở đâu và vì sao nhà trai, nhà gái khác nhau
Ngày cưới truyền thống có hai đầu: nhà gái tiễn con gái về nhà chồng, gọi là lễ vu quy, chữ vu quy nghĩa là cô gái về nhà chồng; nhà trai đón dâu, gọi là lễ thành hôn hoặc tân hôn. Vì vậy câu đối hai nhà nên khác giọng. Nhà gái nói chuyện tiễn đưa, gửi gắm; nhà trai nói chuyện đón về, thêm người.
Chỗ treo phổ biến nhất là hai trụ cổng hoặc hai bên cổng hoa, để khách đi tới đã thấy. Trong nhà, nhiều gia đình treo một đôi câu ở hai bên bàn thờ gia tiên trong lúc làm lễ, rồi gỡ sau đám. Ở nhà hàng tiệc cưới, câu đối thường được in lên phông sân khấu hoặc hai trụ cạnh bàn đón khách.
Treo câu đối gần bàn thờ gia tiên cần hỏi người lớn. Có nhà đã có sẵn câu đối thờ cố định, treo thêm câu cưới bên cạnh làm rối. Khi đó chỉ cần chữ Song hỷ đặt ở vị trí phù hợp, câu đối để ngoài cổng.
Câu đối cưới thường làm bằng giấy đỏ hoặc vải đỏ, chữ vàng hoặc đen, dùng một lần. Nếu muốn giữ làm kỷ niệm, chọn vải thay vì giấy, gấp cất cùng album cưới.
Bốn đôi câu mẫu tự soạn cho ngày cưới
Tất cả là mẫu tự soạn, bảy chữ mỗi vế, đã soát luật: chữ cuối vế trên thanh trắc, vế dưới thanh bằng; chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu ngược thanh giữa hai vế.
| Dùng cho | Vế trên | Vế dưới |
|---|---|---|
| Dùng chung, hợp mọi nhà | Hai họ chung vui ngày kết tóc | Đôi lòng gắn bó buổi xe tơ |
| Nhà gái, lễ vu quy | Cha mẹ tiễn con sang bến mới | Xóm làng chúc phúc trọn duyên lành |
| Nhà trai, lễ thành hôn | Cửa rước dâu hiền vui họ nội | Nhà thêm con thảo ấm tình thân |
| Phông tiệc, nói về đôi trẻ | Trăm năm hạnh phúc chung tay giữ | Muôn thuở thuỷ chung trọn dạ gìn |
Đôi dùng chung đặt hai thành ngữ cưới hỏi cạnh nhau: kết tóc và xe tơ đều chỉ việc thành vợ chồng. Đôi của nhà gái đi từ cha mẹ ra xóm làng; đôi của nhà trai đi từ cửa nhà vào tình thân. Đôi phông tiệc dồn ý vào hai người, không nhắc tới gia đình.
Những hình ảnh quen trong câu đối cưới
Kết tóc, xe tơ. Thành ngữ "kết tóc xe tơ" chỉ việc nên vợ nên chồng. Xe tơ gắn với hình ảnh ông Tơ bà Nguyệt trong truyện xưa, người se sợi chỉ đỏ buộc duyên hai người. Đây là hai hình ảnh an toàn, ai cũng hiểu.
Trăm năm, đầu bạc răng long. Trăm năm là cả đời người. "Đầu bạc răng long" là lời chúc sống với nhau tới già, dùng tốt trong lời nói nhưng hơi dài cho câu đối bảy chữ.
Sắt son, thuỷ chung. Chỉ lòng chung thuỷ bền như sắt, đỏ như son. Hai chữ này hợp làm cặp đối với "hạnh phúc", "gắn bó".
Loan phượng, uyên ương. Hai cặp chim tượng trưng cho đôi lứa trong văn chương cổ. Chúng hay xuất hiện trên câu đối chữ Hán và đồ trang trí cưới; trong câu quốc ngữ, dùng một lần là đủ, nhiều quá câu thành sáo.
Họ nội, họ ngoại, hai họ. Đám cưới là việc của hai gia đình. Đưa chữ "hai họ" vào câu cho khách hai bên cùng thấy mình có mặt trong lời chúc.
Chữ nên tránh trong câu đối ngày cưới
Kiêng kỵ ngày cưới ở mỗi vùng mỗi khác, nhưng có những chữ gần như nơi nào cũng tránh: chia, lìa, tan, vỡ, gãy, đứt, lạc, biệt, ly. Ngay cả khi dùng theo nghĩa phủ định, như "chẳng chia lìa", nhiều người lớn tuổi vẫn thấy không nên đưa chữ đó lên cổng. Viết theo hướng khẳng định: "mãi bên nhau", "trọn duyên lành".
Không nên viết câu nhắc chuyện sinh con trai, nối dõi. Lời chúc "sớm sinh quý tử" vẫn được dùng phổ biến, nhưng treo trên cổng cho cả làng đọc có thể làm đôi trẻ và nhà gái khó xử. Nếu muốn chúc chuyện con cái, để vào lời nói riêng.
Tránh chữ khen giàu sang của nhà trai hay nhà gái, như "môn đăng hộ đối", "nhà cao cửa rộng". Câu đối treo ở nhà này nhưng khách của cả hai họ cùng đọc; chữ so sánh hai gia đình dễ bị hiểu lệch.
Câu đối cưới cũng không phải chỗ đùa. Câu đối vui, chơi chữ dành cho thiệp bạn bè hay màn phát biểu ở tiệc; cổng nhà và phông lễ nên giữ giọng trang trọng, nhất là khi đám cưới có ông bà cao tuổi dự.
Đổi chữ trong câu mẫu cho hợp hai bạn
Muốn đôi câu có dấu ấn riêng mà vẫn đúng luật, làm theo thứ tự:
- Chọn đôi câu mẫu gần ý nhất với điều bạn muốn nói.
- Đánh số chữ từ một đến bảy cho mỗi vế. Ghi thanh của chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu, thứ bảy.
- Chỉ thay chữ ở vị trí một, ba, năm nếu muốn thay tự do; ba vị trí này không bị buộc thanh.
- Nếu thay chữ ở vị trí hai, bốn, sáu, bảy, chọn chữ cùng thanh. Ví dụ trong đôi dùng chung, chữ thứ sáu "kết" (trắc) đổi thành "buộc" (trắc) vẫn đúng luật.
- Thay chữ ở vế này thì xem chữ đối diện ở vế kia có còn đối nghĩa không. Đổi "ngày" thành "mùa" ở vế trên thì nên đổi "buổi" thành chữ cùng loại chỉ thời gian ở vế dưới.
- Đọc lại cả đôi, đếm đủ bảy chữ mỗi vế, rồi mới gửi đi in.
Ví dụ, nếu hai bạn quen nhau từ thời đi học, có thể sửa đôi dùng chung: giữ vế dưới, đổi vế trên thành "Hai họ chung vui ngày kết bạn"? Không được, vì "bạn" là thanh bằng, vế trên sẽ kết bằng thanh bằng. Muốn nhắc chuyện bạn học, đưa vào lời phát biểu sẽ dễ hơn.
Phối câu đối với chữ Song hỷ và tên cô dâu chú rể
Câu đối thường không đứng một mình mà đi cùng các thành phần khác trên cổng và phông. Vài nguyên tắc để mọi thứ không chồng lên nhau:
- Chữ Song hỷ đặt chính giữa, câu đối hai bên. Không đặt Song hỷ đè lên vế câu đối.
- Tên cô dâu chú rể nên đặt dưới chữ Song hỷ, chữ nhỏ hơn câu đối. Theo lối quen, nhà nào treo thì tên con nhà đó đứng trước.
- Dòng "Lễ vu quy" ở nhà gái, "Lễ thành hôn" ở nhà trai, đặt trên cùng hoặc ngay dưới chữ Song hỷ, không viết cả hai dòng ở một nhà.
- Ngày cưới ghi một dòng nhỏ dưới tên. Nếu ghi cả ngày âm lịch, kiểm tra kỹ việc đổi lịch vì sai một ngày là sai cả phông.
- Câu đối dài bảy chữ in dọc mỗi vế một cột. Nếu cổng thấp, có thể dùng câu năm chữ thay vì nén cỡ chữ quá nhỏ.
Chi tiết chia dòng, cỡ chữ khi in phông, viết thiệp và băng hoa được nói riêng trong bài về cách trình bày câu đối mừng lên các vật dụng.
Câu đối cưới năm chữ cho cổng nhỏ và thiệp mời
Không phải nhà nào cũng dựng được cổng cao. Với cổng hẻm nhỏ, cửa căn hộ chung cư hay thiệp mời khổ hẹp, câu đối bảy chữ in dọc sẽ phải thu cỡ chữ rất nhỏ. Khi đó câu năm chữ là lựa chọn gọn hơn. Luật vẫn như câu dài: hai vế bằng chữ, chữ cuối vế trên thanh trắc, vế dưới thanh bằng, chữ thứ hai và thứ tư ngược thanh giữa hai vế.
Mẫu tự soạn: "Đôi lứa nên duyên đẹp / Trăm năm giữ nghĩa bền". Vế trên có chữ thứ hai "lứa" thanh trắc, chữ thứ tư "duyên" thanh bằng, chữ cuối "đẹp" thanh trắc. Vế dưới ngược lại: "năm" bằng, "nghĩa" trắc, "bền" bằng. Nên duyên đối giữ nghĩa, đẹp đối bền.
Câu năm chữ hợp với thiệp mời vì đọc một hơi là hết, không làm loãng phần thông tin chính là ngày giờ, địa điểm. Đặt hai vế ở hai mép thiệp hoặc ở mặt sau, chữ nhỏ hơn tên cô dâu chú rể.
Nếu dùng câu năm chữ cho cổng, giữ chữ to và để nhiều khoảng trống. Một đôi câu ngắn chữ to đọc từ xa rõ hơn nhiều so với đôi câu dài chữ nhỏ, và người đi đường vẫn nhận ra ngay đây là nhà có hỷ sự.
Chuẩn bị câu đối cưới: ai viết, viết khi nào
Ở nhiều làng, việc viết câu đối cưới được giao cho một người trong họ biết chữ, hoặc nhờ một ông đồ, một người viết thư pháp quen. Ở thành phố, phần lớn gia đình đặt in cùng lúc với phông và thiệp. Dù cách nào, nên chốt câu đối trước ngày cưới ít nhất một tuần, cùng lúc chốt thiệp, để còn thời gian sửa lỗi chính tả.
Người duyệt câu đối nên là cha mẹ hai bên, không chỉ đôi trẻ. Cha mẹ biết những chữ nào trong họ kiêng, những câu nào đã từng dùng cho anh chị trong nhà. Treo lại đúng đôi câu đã dùng cho đám cưới người anh chưa hẳn là lỗi, nhưng có người sẽ để ý.
Nếu nhờ người viết tay bằng bút lông, đưa sẵn câu đã soát luật, ghi rõ vế trên, vế dưới, và kiểm tra lại sau khi viết. Thư pháp quốc ngữ có nét bay bướm, đôi khi dấu thanh bị lẫn vào nét trang trí; chữ "duyên" mà dấu như "duyện" thì câu mất nghĩa.
Sau đám cưới, câu đối giấy thường bị bỏ. Nếu đôi trẻ muốn giữ, gỡ cẩn thận, cuộn lại thay vì gấp, cất trong ống giấy. Vài năm sau mở ra cho con cái xem, đôi câu ngày cưới của cha mẹ là một kỷ vật dễ thương.
Câu hỏi thường gặp
Câu đối đám cưới treo bên nào là vế trên?
Vế trên treo bên phải của người đứng ngoài cổng nhìn vào, vế dưới bên trái. Nhận vế trên bằng chữ cuối mang thanh trắc. Trong đôi câu dùng chung ở bài, vế kết bằng chữ tóc là vế trên, vế kết bằng chữ tơ là vế dưới.
Nhà gái có cần treo câu đối không hay chỉ nhà trai?
Cả hai nhà đều có thể treo. Nhà gái treo cho lễ vu quy, nhà trai cho lễ thành hôn. Nhiều nơi chỉ nhà nào làm tiệc tại nhà mới dựng cổng và treo câu đối. Nếu hai nhà cùng treo, nên dùng hai đôi câu khác nhau cho đúng vai.
Có nên dùng câu đối chữ Hán cho đám cưới không?
Có thể, nhưng chỉ nên dùng các cụm đã quen như Bách niên giai lão, Vĩnh kết đồng tâm và nên có phiên âm. Đám cưới đông khách trẻ, câu quốc ngữ dễ đọc hơn. Nhiều nhà dùng chữ Song hỷ chữ Hán ở giữa và câu đối quốc ngữ hai bên.
Câu đối cưới có cần ghi tên cô dâu chú rể vào trong câu không?
Không cần, và nên tránh. Ghép tên vào câu đối rất khó giữ luật vì thanh của tên không chọn được. Tên nên đặt riêng dưới chữ Song hỷ. Cách ghép tên chỉ hợp với câu đối vui trên thiệp bạn bè, không hợp với cổng lễ.
Đám cưới tổ chức ở nhà hàng thì câu đối để ở đâu?
Thường in hai vế lên hai bên phông sân khấu hoặc hai trụ ở lối vào, gần bàn đón khách. Nếu phông đã nhiều chữ và hình, có thể bỏ câu đối và chỉ giữ chữ Song hỷ cùng tên hai bạn để phông thoáng.
Cưới lần hai có nên treo câu đối không?
Tuỳ gia đình. Nhiều cặp chọn lễ nhỏ, không dựng cổng. Nếu treo, chọn câu nói về hiện tại và sự trân trọng, tránh chữ kết tóc, thuở ban đầu, trăm năm, vì gợi lần cưới trước. Lời lẽ nhẹ nhàng giúp con cái riêng của hai bên cũng thấy dễ chịu.