CauChuc.comCâu Chúc
Câu đối: hiểu từ gốc

Câu đối chữ Hán, chữ Nôm và chữ quốc ngữ: khác nhau ở đâu, nên chọn loại nào

Câu đối chữ Hán cô đọng, trang nghiêm; câu đối Nôm đưa tiếng Việt và chơi chữ vào; câu đối quốc ngữ ai cũng đọc được. Bài so sánh ba lối chữ và cách chọn cho từng việc.

Side view of a calligrapher sitting on a low stool at a Tet street stall in Hai Phong, brush hovering over blank red paper, onlookers blurred, bright winter morning, face turned away

Câu đối chữ Hán viết bằng chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt, cô đọng và trang nghiêm, hợp với gian thờ, đình chùa; câu đối chữ Nôm dùng tiếng Việt viết bằng chữ Nôm, đưa khẩu ngữ, thành ngữ và chơi chữ vào câu đối; câu đối chữ quốc ngữ viết bằng chữ cái Latinh của tiếng Việt hiện đại, ai đọc cũng hiểu, hợp với Tết, mừng và những dịp gần gũi.

Ba lối chữ là ba chặng trong đời sống câu đối Việt, và ngày nay vẫn cùng tồn tại. Chọn lối nào không phải chuyện cái nào sang hơn, mà là chuyện ai sẽ đọc, treo ở đâu và bạn muốn nói điều gì. Bài này giải thích từng lối, những điểm mạnh và chỗ dễ vấp, kèm bảng so sánh và gợi ý chọn cho từng việc cụ thể.

Câu đối chữ Hán: cô đọng, trang nghiêm, giàu điển

Câu đối chữ Hán là lối cổ nhất và cũng là lối gắn chặt với nghi lễ. Mỗi chữ Hán mang một khối nghĩa lớn, nên chỉ với bảy chữ, người viết đã nói được điều mà tiếng Việt cần mười mấy chữ. Đôi câu đối thờ “Tổ công tông đức thiên niên thịnh / Tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh” gói trọn một lời tri ân tổ tiên và một lời mong cho con cháu, mỗi vế chỉ bảy chữ.

Chữ Hán còn giàu điển tích và hình ảnh ước lệ: Nam Sơn, Đông Hải, kim ô, ngọc thố, cầm sắt. Người đọc có vốn chữ sẽ thấy ngay tầng nghĩa thứ hai; người không có vốn chữ thì cần bản dịch. Đây vừa là điểm mạnh, vừa là giới hạn của câu đối chữ Hán hôm nay.

Vì tính trang nghiêm và truyền thống, câu đối chữ Hán vẫn chiếm phần lớn ở gian thờ gia tiên, nhà thờ họ, đình, đền, chùa. Nhiều người không đọc được mặt chữ vẫn chọn câu đối chữ Hán cho gian thờ, vì họ coi đó là cách giữ nếp của ông cha.

Chỗ dễ vấp là nội dung. Người mua không đọc được chữ rất dễ chọn nhầm câu, hoặc treo một câu đối mà chính mình không hiểu. Câu đối chữ Hán vì thế nên luôn đi kèm phiên âm và dịch nghĩa, và nên được người thông chữ xác nhận trước khi đặt làm. Tự đặt câu chữ Hán khi không vững Hán văn thì dễ sai ngữ pháp, sai chữ mà bản thân không nhận ra.

Câu đối chữ Nôm: tiếng Việt bước vào câu đối

Chữ Nôm là hệ chữ người Việt tạo ra trên cơ sở chữ Hán để ghi tiếng Việt, có chữ mượn nguyên chữ Hán, có chữ ghép hai thành phần, một phần gợi nghĩa, một phần gợi âm. Khi nói “câu đối Nôm”, người ta thường muốn nói câu đối bằng tiếng Việt, vốn xưa được viết bằng chữ Nôm, nay được đọc và chép lại bằng chữ quốc ngữ.

Câu đối Nôm đem lại cho thể loại này những thứ chữ Hán không có: tiếng nói hằng ngày, thành ngữ, từ láy, lối nói lái, chơi chữ đồng âm của tiếng Việt. Câu dân gian “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” là câu đối thuần Việt, không một chữ Hán Việt khó, mà đối chỉnh từng cặp. Đôi câu đối Tết tương truyền của Hồ Xuân Hương, với “ních chặt lại”, “mở toang ra”, cũng là kiểu câu đối mà chỉ tiếng Việt mới viết được như thế.

Phần lớn câu đối trào phúng, câu đối chơi chữ và nhiều câu đối khóc, câu đối tự thuật nổi tiếng của các nhà nho thế kỷ mười tám, mười chín là câu đối Nôm. Chúng sống trong trí nhớ dân gian nhờ cái duyên của tiếng mẹ đẻ, và cũng vì thế mà nhiều câu có dị bản, có câu được gán cho nhiều tác giả.

Ngày nay, ít ai còn treo câu đối viết bằng mặt chữ Nôm, trừ ở một số di tích và trong những dự án phục dựng. Nhưng tinh thần của câu đối Nôm, tức là làm câu đối bằng tiếng Việt sống động, vẫn chảy tiếp qua câu đối quốc ngữ.

Câu đối chữ quốc ngữ: ai cũng đọc được

Từ thế kỷ hai mươi, chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của tiếng Việt, và câu đối cũng theo đó chuyển sang chữ quốc ngữ. Câu đối quốc ngữ có thể là câu đối tiếng Việt thuần, như các câu đối Nôm được chép lại, hoặc là câu đối dùng nhiều từ Hán Việt nhưng viết bằng chữ cái Latinh.

Điểm mạnh lớn nhất là ai cũng đọc được. Một đôi câu đối Tết bằng chữ quốc ngữ treo ở cửa, khách đến chơi đọc lên là hiểu, trẻ con cũng đọc được. Điều này làm câu đối quốc ngữ đặc biệt hợp với những dịp đông người: đám cưới, mừng thọ, khai trương, Tết.

Song hành với câu đối quốc ngữ là lối thư pháp chữ Việt, viết chữ cái Latinh bằng bút lông với những nét uốn mềm. Hình ảnh người viết câu đối quốc ngữ ở các phố ông đồ ngày giáp Tết đã trở nên quen thuộc. Thư pháp chữ Việt có nhiều phong cách, có lối viết rõ từng chữ, có lối cách điệu đến mức cần nhìn kỹ mới đọc ra.

Chỗ dễ vấp của câu đối quốc ngữ là chính sự dễ dãi. Vì ai cũng đọc được nên lỗi luật đối hiện ra trước mắt mọi người: hai vế lệch chữ, chữ cuối cùng thanh bằng, đối từ loại lệch. Câu đối quốc ngữ đòi luật chặt không kém câu đối chữ Hán, thậm chí còn chặt hơn vì không có tấm màn chữ Hán che đi.

So sánh ba lối chữ

Bảng sau đặt ba lối câu đối cạnh nhau theo những tiêu chí người chọn câu đối hay quan tâm.

Tiêu chíChữ HánChữ NômChữ quốc ngữ
Ngôn ngữHán văn, đọc âm Hán ViệtTiếng ViệtTiếng Việt, có thể nhiều từ Hán Việt
Người đọc hiểu đượcNgười có vốn Hán văn, hoặc qua bản dịchNgười đọc được chữ Nôm; nay chủ yếu qua bản phiên quốc ngữMọi người biết chữ
Độ cô đọngRất cao, nhiều điểnVừa, giàu khẩu ngữVừa, tuỳ người viết
Sắc tháiTrang nghiêm, cổ kínhGần gũi, hóm hỉnh, có thể sâu cayGần gũi, dễ cảm
Hay dùng ởGian thờ, nhà thờ họ, đình chùaVăn chương, giai thoại, di tíchTết, mừng thọ, cưới, khai trương, phòng khách
Chỗ dễ vấpChọn nhầm nội dung vì không đọc đượcDị bản, gán nhầm tác giảLỗi luật đối lộ ra ngay

Bảng cho thấy không lối nào vượt hẳn lối nào. Mỗi lối mạnh ở chỗ riêng, và nhiều gia đình dùng cả hai: chữ Hán ở gian thờ, chữ quốc ngữ ở cửa và phòng khách.

Chọn lối chữ cho từng việc

Một vài gợi ý theo tình huống hay gặp trong gia đình:

  • Gian thờ gia tiên, nhà thờ họ: câu đối chữ Hán nếu gia đình muốn giữ nếp, kèm bản phiên âm dịch nghĩa cất cùng gia phả; câu đối quốc ngữ nếu muốn con cháu đọc được ngay.
  • Cửa nhà ngày Tết: câu đối quốc ngữ để cả nhà và khách cùng đọc, hoặc chữ Hán quen thuộc nếu gia đình đã quen.
  • Mừng thọ ông bà: chọn theo ông bà. Cụ từng học chữ Nho sẽ quý một đôi chữ Hán; cụ không đọc chữ Hán sẽ vui hơn khi đọc được câu chúc của con cháu.
  • Mừng cưới, khai trương, tân gia: câu đối quốc ngữ hợp hơn vì người dự đông, cần hiểu ngay.
  • Làm quà cho người yêu thư pháp: hỏi trước họ chuộng lối nào. Phần đồ vật như tranh chữ, câu đối gỗ có thể xem thêm trên Vật Phẩm Phong Thủy.
  • Tự soạn: nếu không vững Hán văn, hãy soạn bằng tiếng Việt. Một đôi câu đối quốc ngữ đúng luật quý hơn một đôi chữ Hán sai ngữ pháp.

Điều quan trọng nhất là người treo hiểu câu mình treo. Một đôi câu đối, dù bằng chữ gì, chỉ thật sự có ý nghĩa khi người trong nhà biết nó nói gì.

Chuyển một câu đối chữ Hán sang tiếng Việt: dịch hay phỏng

Nhiều gia đình muốn có bản tiếng Việt của câu đối thờ chữ Hán trong nhà để treo kèm hoặc ghi vào gia phả. Có hai cách. Dịch nghĩa giữ sát từng chữ, cốt để hiểu, không cần đúng luật đối. Phỏng soạn là viết lại thành một đôi câu đối tiếng Việt mới, giữ ý chính và giữ đủ luật đối, có thể treo được như một câu đối thật.

Lấy đôi “Mộc xuất thiên chi do hữu bản / Thuỷ lưu vạn phái tố tòng nguyên”. Bản dịch nghĩa là: cây ra nghìn cành vẫn có gốc, nước chảy muôn dòng ngược về nguồn. Bản phỏng soạn tiếng Việt, mẫu tự soạn để minh hoạ: “Cây trổ nghìn cành, cành nhớ gốc / Nước chia muôn nhánh, nhánh về nguồn”. Hai vế bảy chữ, ngắt 4 – 3; trổ đối chia, nghìn đối muôn, nhớ đối về, gốc đối nguồn; chữ cuối “gốc” trắc, “nguồn” bằng; chữ “cành” và “nhánh” được lặp lại có chủ ý ở cùng vị trí trong hai vế.

Phỏng soạn không phải là thay thế bản gốc. Nó là một cách để con cháu không đọc chữ Hán vẫn đọc được lời ông cha qua một câu đối đúng luật. Khi ghi vào gia phả, nên ghi đủ ba thứ: nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa, rồi mới đến bản phỏng soạn nếu có, ghi rõ ai soạn, năm nào.

Khi đặt làm câu đối chữ Hán: những điều nên hỏi

Nếu bạn quyết định chọn câu đối chữ Hán cho gian thờ hay làm quà, vài câu hỏi giúp bạn tránh những chuyện đáng tiếc. Thứ nhất: câu này nghĩa là gì, xin bản phiên âm và dịch nghĩa sát chữ. Thứ hai: câu này dùng cho dịp nào, có hợp với nơi bạn định treo không. Thứ ba: câu có xuất xứ ở đâu, là câu quen dùng hay câu người viết tự soạn.

Với những câu tự soạn bằng chữ Hán, nên nhờ thêm một người thông Hán văn khác đọc lại, vì người viết đôi khi tự tin quá mức với vốn chữ của mình. Lỗi hay gặp là dùng chữ đúng nghĩa từng chữ nhưng ghép lại không thành câu theo ngữ pháp Hán văn, hoặc dùng một chữ đồng âm sai mặt chữ.

Cuối cùng, hãy kiểm luật đối bằng phiên âm, như cách soát câu đối quốc ngữ: hai vế bằng số chữ, chữ cuối vế trên thanh trắc, vế dưới thanh bằng, các vị trí then chốt đối thanh. Phép kiểm này không cần biết chữ Hán mà vẫn phát hiện được nhiều lỗi chép, lỗi khắc.

Câu hỏi thường gặp

Câu đối chữ Nôm và câu đối tiếng Việt có phải một không?

Gần như một, khác ở chữ viết. Câu đối Nôm là câu đối bằng tiếng Việt viết bằng chữ Nôm; khi chép bằng chữ quốc ngữ, nội dung tiếng Việt vẫn giữ nguyên. Vì thế nhiều sách gọi chung những câu đối tiếng Việt cổ là câu đối Nôm, dù người đọc hôm nay chỉ thấy bản quốc ngữ.

Gian thờ treo câu đối quốc ngữ có được không?

Được. Không có quy định nào bắt buộc gian thờ phải dùng chữ Hán. Nhiều gia đình chọn câu đối quốc ngữ để con cháu đọc hiểu lời ông bà gửi gắm. Điều cần giữ là nội dung trang nghiêm, đúng tinh thần câu đối thờ, và luật đối chặt chẽ.

Thư pháp chữ Việt có được coi là câu đối truyền thống không?

Thư pháp chữ Việt là một lối viết mới, phát triển mạnh từ cuối thế kỷ hai mươi. Câu đối viết bằng thư pháp chữ Việt vẫn là câu đối nếu nội dung giữ đủ luật đối. Truyền thống ở đây nằm ở thể văn và cách dùng, còn chữ viết thì đã đổi theo thời.

Có nên tự soạn câu đối chữ Hán không?

Chỉ nên khi bạn thật sự vững Hán văn. Tự soạn bằng vốn chữ Hán ít ỏi rất dễ sai ngữ pháp mà không nhận ra, và câu sai sẽ bị treo lâu ở nơi trang trọng. Nếu muốn có câu đối chữ Hán, chọn câu quen dùng có xuất xứ rõ hoặc nhờ người thông chữ soạn và kiểm.

Câu đối quốc ngữ có cần dùng nhiều từ Hán Việt cho trang trọng không?

Không cần. Từ Hán Việt giúp câu gọn và trang trọng, nhưng dùng quá nhiều mà không hiểu nghĩa thì câu thành sáo. Nhiều đôi câu đối hay nhất bằng tiếng Việt thuần, dùng chữ hằng ngày. Hãy chọn từ đúng ý mình trước, trang trọng sau.

Vì sao câu đối Nôm hay có nhiều dị bản?

Vì chúng sống chủ yếu bằng truyền miệng. Mỗi người nhớ và kể lại có thể đổi một hai chữ, và khi được chép vào sách ở những thời điểm khác nhau, các bản lệch nhau. Gặp dị bản, bạn nên ghi rõ nguồn mình dùng và đọc thêm các bản khác để so.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183