Muốn có câu đối Tết mang dấu ấn từng năm, cách dễ nhất là lấy hình ảnh con giáp của năm đó đặt vào vế trên, rồi cho vế dưới một cảnh xuân đối lại. Bài đưa đủ mười hai đôi câu đối năm chữ tự soạn, mỗi con giáp một đôi, đã soát luật bằng trắc, kèm năm dương lịch gần nhất của con giáp đó để bạn dùng lại được nhiều năm.
Bài cũng chỉ cách chọn nét đẹp của mỗi con vật, vì không phải con giáp nào cũng dễ khen: con chuột, con rắn, con lợn đều có nghĩa xấu trong tiếng lóng hay trong nỗi sợ của người đọc. Cuối bài là một khung chung để bạn tự thay chữ, cùng lời nhắc đừng biến câu đối thành lời đoán vận theo tuổi.
Vì sao câu đối Tết hay mượn hình ảnh con giáp
Câu đối Tết truyền thống ít khi nhắc con giáp; các câu chữ Hán quen thuộc chỉ nói xuân về, năm thêm, phúc đến. Thói quen đưa con giáp vào câu đối mạnh lên cùng với tranh Tết, thiệp Tết và đồ trang trí in hình con vật của năm. Người ta muốn câu đối "khớp" với bức tranh, và muốn mỗi năm có một câu riêng thay vì treo đúng một câu suốt mấy chục năm.
Con giáp còn giúp trẻ nhỏ thấy câu đối gần gũi. Một đứa trẻ năm tuổi chưa hiểu "phúc mãn càn khôn", nhưng hiểu ngay "trâu cày đồng mạ biếc". Câu đối nhắc con vật quen thuộc trở thành cách dạy con đếm năm, nhớ con giáp, và nhận ra rằng mỗi năm có một tên gọi.
Thêm một lợi ích thực tế: câu đối có con giáp giúp người treo nhớ câu ấy thuộc năm nào. Nhiều nhà giữ lại câu đối giấy cũ trong ngăn tủ; mười năm sau lấy ra, nhìn con vật là biết đó là Tết năm nào, ai viết, nhà khi ấy có những ai.
Điều cần giữ là con giáp chỉ làm hình ảnh. Mười hai con giáp vốn là cách gọi tên mười hai địa chi cho dễ nhớ; câu đối không cần và không nên kéo theo những lời xem tuổi, xung khắc. Câu đối dán ở cửa là để mọi người đi qua cùng vui, kể cả người tuổi "xung" với năm đó theo sách tử vi.
Mười hai đôi câu đối Tết theo con giáp (mẫu tự soạn)
Tất cả đều là câu năm chữ, ngắt nhịp 2/3. Chữ thứ hai và thứ tư của hai vế ngược thanh; chữ cuối vế trên trắc, vế dưới bằng. Cột năm ghi năm dương lịch gần nhất có Tết thuộc con giáp đó.
| Con giáp | Năm gần nhất | Vế trên / vế dưới |
|---|---|---|
| Tý – chuột | Nhâm Tý 2032 | Chuột nhắt chăm tha hạt / Mai vàng sớm nở hoa |
| Sửu – trâu | Quý Sửu 2033 | Trâu cày đồng mạ biếc / Én liệng khoảng trời xanh |
| Dần – hổ | Giáp Dần 2034 | Hổ về rừng thẳm lặng / Xuân đến ngõ nhà vui |
| Mão – mèo | Ất Mão 2035 | Mèo nằm hiên nắng ấm / Mai nở ngõ xuân tươi |
| Thìn – rồng | Bính Thìn 2036 | Rồng lượn trời mây biếc / Đào khoe ngõ nắng hồng |
| Tỵ – rắn | Đinh Tỵ 2037 | Năm Tỵ vườn tre biếc / Tháng Giêng ngõ cúc vàng |
| Ngọ – ngựa | Bính Ngọ 2026 | Ngựa phi đường thẳng rộng / Người dạo phố hoa đông |
| Mùi – dê | Đinh Mùi 2027 | Dê gặm đồi sương mỏng / Nắng soi mái ngói hồng |
| Thân – khỉ | Mậu Thân 2028 | Khỉ chuyền cành bưởi trĩu / Chim hót khóm tre xanh |
| Dậu – gà | Kỷ Dậu 2029 | Gà gáy sân đình sớm / Mai cười ngõ xóm tươi |
| Tuất – chó | Canh Tuất 2030 | Chó giữ hiên nhà vắng / Đèn soi bữa Tết vui |
| Hợi – lợn | Tân Hợi 2031 | Lợn ủn chuồng rơm ấm / Mạ lên ruộng nước xanh |
Mai và đào xuất hiện ở nhiều vế dưới vì đó là hai loài hoa Tết quen thuộc của miền Nam và miền Bắc. Nếu nhà bạn ở miền Bắc, có thể đổi "mai" thành "đào" khi chữ đó cùng thanh bằng; ngược lại ở miền Nam đổi "đào" thành "mai". Hai chữ đều thanh bằng nên đổi qua lại không phá luật.
Chọn nét đẹp của mỗi con vật, tránh nghĩa xấu
Chuột, rắn: chọn cảnh, đừng chọn con. Nhiều người sợ hoặc ghét hai con vật này. Câu năm Tý trong bảng chỉ lấy dáng chuột nhắt chăm chỉ tha hạt, không nhắc phá lúa; câu năm Tỵ không nhắc rắn mà dùng chữ "năm Tỵ" rồi chuyển ngay sang vườn tre, ngõ cúc.
Mèo chứ không phải thỏ. Chi Mão ở Việt Nam là con mèo, trong khi nhiều nước cùng dùng chữ Hán lại gọi là thỏ. Câu đối treo ở nhà người Việt nên dùng con mèo cho khỏi lệch với tranh Tết bán ở chợ.
Chó, lợn, dê: cẩn thận tiếng lóng. Ba con vật này đều có cách dùng lóng mang ý chê. Chỉ chọn hình ảnh làm việc và nết hiền: chó giữ nhà, lợn trong chuồng rơm ấm, dê gặm cỏ. Tránh tính từ tả hình dáng như béo, xồm, già.
Hổ, rồng: đừng làm quá. Con vật oai thường kéo theo chữ to tát như "vạn thế", "bá chủ". Câu đối treo ở nhà dân chỉ cần dáng rồng lượn, hổ về rừng, đủ gợi sức mạnh mà không khoa trương.
Trâu, gà, ngựa, khỉ: dùng cảnh đời thường. Trâu gắn với đồng ruộng, gà gắn với buổi sớm ở làng, ngựa gắn với đường đi, khỉ gắn với cây trái. Câu đối càng gần cảnh thật càng dễ cảm.
Khung chung để tự thay con giáp
Mười hai câu trong bảng dùng chung một khung. Nắm khung này, bạn tự viết được câu cho bất cứ năm nào.
- Vế trên: tên con vật (hai chữ đầu có chữ thứ hai mang thanh cần thiết), rồi một cụm ba chữ tả nơi chốn và tính chất. Ví dụ "Trâu cày / đồng mạ biếc".
- Vế dưới: một sự vật của mùa xuân (hoa, chim, nắng, đèn), rồi một cụm ba chữ tả nơi chốn và tính chất tương ứng. Ví dụ "Én liệng / khoảng trời xanh".
- Chọn chữ cuối vế trên mang thanh sắc, hỏi, ngã hoặc nặng: biếc, ấm, sớm, rộng, mỏng. Chữ cuối vế dưới thanh ngang hoặc huyền: xanh, vui, hồng, vàng, tươi.
- Soát chữ thứ hai: nếu vế trên là "cày" (bằng) thì vế dưới phải là chữ trắc như "liệng".
- Soát chữ thứ tư: "mạ" (trắc) ở vế trên thì vế dưới phải là chữ bằng như "trời".
- Đọc to, xem hai vế có tả cùng một buổi sáng xuân hay không. Hai vế cùng một khung cảnh thì đôi câu liền mạch.
Soát một mẫu từ bản nháp đến bản cuối
Để thấy luật làm việc thế nào, hãy xem bản nháp đầu tiên của câu năm Sửu: "Trâu cày ruộng xanh mướt / Chim hót trời trong veo". Đếm chữ: năm và năm, được. Chữ cuối "mướt" trắc, "veo" bằng, được. Chữ thứ hai "cày" bằng, "hót" trắc, được. Nhưng chữ thứ tư "xanh" bằng, "trong" cũng bằng, trùng thanh. Đọc lên nghe phẳng, hai vế không bật vào nhau.
Sửa bằng cách đổi cụm cuối vế trên thành "đồng mạ biếc": chữ thứ tư thành "mạ" trắc. Vế dưới thì đổi chim hót thành "én liệng" để có thêm hình ảnh chuyển động trên cao, đối với trâu cày dưới thấp, và cụm cuối thành "khoảng trời xanh" cho chữ thứ tư "trời" bằng. Bản cuối: "Trâu cày đồng mạ biếc / Én liệng khoảng trời xanh".
Bản cuối còn được thêm một lớp đối ý: dưới đất và trên trời, con vật làm việc và con chim bay chơi. Đây là điều luật thanh không đòi, nhưng người đọc câu đối lâu năm sẽ nhận ra và thấy câu có chiều sâu hơn. Khi tự soạn, bạn cứ soát luật trước, rồi mới tìm đến lớp đối ý này.
Kéo câu năm chữ thành câu bảy chữ
Cổng nhà, cửa chính hay sảnh cơ quan thường cần câu dài hơn cho cân với khung cửa. Cách đơn giản nhất là thêm một cụm hai chữ chỉ nơi chốn vào đầu mỗi vế, giữ nguyên năm chữ cũ phía sau. Khi đó năm chữ cũ trượt sang vị trí thứ ba đến thứ bảy, nên các vị trí cần soát đổi theo: chữ thứ hai mới là chữ cuối của cụm thêm vào, chữ thứ tư và thứ sáu là chữ thứ hai và thứ tư của câu cũ.
Ví dụ với câu năm Sửu: thêm "Ngoài bãi" và "Trên cao" thành "Ngoài bãi trâu cày đồng mạ biếc / Trên cao én liệng khoảng trời xanh" (mẫu tự soạn). Chữ thứ hai "bãi" trắc đối "cao" bằng, đúng. Chữ thứ tư "cày" và "liệng", thứ sáu "mạ" và "trời" vẫn ngược thanh như trong câu năm chữ. Hai cụm thêm vào cũng đối nhau về ý: dưới đất và trên trời.
Với câu năm Thìn: "Ngoài khơi rồng lượn trời mây biếc / Trước cửa đào khoe ngõ nắng hồng" (mẫu tự soạn). "Khơi" bằng đối "cửa" trắc; cảnh xa ngoài biển đối với cảnh gần trước cửa nhà. Nếu chọn cụm thêm có chữ thứ hai cùng thanh ở hai vế, câu sẽ hỏng ngay ở vị trí đầu tiên, nên hãy soát cụm thêm trước rồi mới ghép.
Đừng biến câu đối con giáp thành lời đoán tuổi
Câu đối dán ra cửa không chỉ người trong nhà đọc. Vài điều nên giữ:
- Không viết câu kiểu "năm Hổ tuổi Thân nên tránh" hay "tuổi Tý năm nay gặp vận". Đó là chuyện riêng của người tin xem tuổi, không phải lời mừng chung.
- Không chọn con giáp theo tuổi của chủ nhà để "hợp mệnh". Câu đối Tết theo năm thì dùng con giáp của năm đó.
- Không hứa: "năm Rồng phát tài", "năm Ngựa thăng tiến". Câu đối tả cảnh xuân là đủ.
- Không dùng con giáp để trêu người cụ thể trong xóm, như gọi tên ai đó cạnh con vật.
- Với trẻ nhỏ sinh năm đó, câu đối có con giáp của con là món quà vui; đừng thêm lời đoán tính cách theo tuổi.
Nếu bạn muốn tìm hiểu con giáp theo góc lá số, đó là phạm vi của các trang tử vi; câu đối Tết chỉ mượn con vật làm hình ảnh cho đẹp. Muốn câu dài hơn năm chữ, hãy giữ khung trên và thêm một cụm hai chữ ở đầu mỗi vế, nhớ soát thêm chữ thứ sáu.
Câu hỏi thường gặp
Câu đối theo con giáp nên treo ở đâu trong nhà?
Hợp nhất là cửa ra vào, phòng khách, góc trang trí hoặc phòng trẻ. Chỗ thờ tự thường dùng câu đối trang trọng nói về tổ tiên, không nên dùng câu đối con giáp vui. Ở cơ quan có thể dùng làm phông chụp ảnh hoặc trên thiệp chúc mừng.
Vì sao các câu trong bài đều năm chữ?
Câu năm chữ đủ chỗ cho tên con vật và một cảnh xuân, lại ngắn để viết trên giấy khổ nhỏ, thiệp và tin nhắn. Muốn câu bảy chữ, bạn thêm hai chữ vào đầu mỗi vế, rồi soát thêm chữ thứ sáu theo luật.
Năm Mão nên vẽ mèo hay thỏ đi kèm câu đối?
Ở Việt Nam chi Mão là con mèo, nên câu đối và tranh nên dùng con mèo. Nếu bạn gửi thiệp cho bạn bè ở nước dùng con thỏ, có thể vẽ thỏ, nhưng nên viết câu đối riêng cho khớp hình.
Có thể dùng một đôi câu đối con giáp cho nhiều năm không?
Được. Câu không nhắc can như Giáp, Ất, Bính thì dùng lại sau mười hai năm, khi con giáp đó quay lại. Câu có nhắc can thì sáu mươi năm mới gặp lại, nên coi như chỉ dùng một lần.
Câu đối năm Tỵ không nhắc con rắn có sai không?
Không sai. Câu đối mượn con giáp làm hình ảnh, không bắt buộc phải tả con vật. Với năm Tỵ, nhiều người không thích hình rắn trên cửa, nên dùng chữ "năm Tỵ" rồi chuyển sang cảnh xuân là cách nhẹ nhàng hơn.
Cho trẻ tự làm câu đối con giáp thế nào cho vui?
Cho trẻ chọn con vật năm nay, kể ra con vật đó hay làm gì, rồi người lớn giúp ghép thành vế trên. Vế dưới để trẻ chọn một loài hoa hoặc con chim. Không cần đúng luật ngay; quan trọng là trẻ thấy câu đối là trò chữ của cả nhà.