Để tự làm một đôi câu đối, hãy đi năm bước: chọn một ý chính có hai mặt bổ sung nhau, viết vế trên kết bằng chữ thanh trắc, dựng khung vế dưới theo đúng từ loại và thanh cần đối, điền chữ và thử nhiều phương án, rồi soát đủ bốn luật (số chữ, thanh, từ loại, ý) và đọc to trước khi chép.
Câu đối đúng luật không cần chữ Hán hay vốn văn chương sâu; nó cần một ý rõ ràng và sự kiên nhẫn soát từng chữ. Bài này làm mẫu một đôi câu đối từ đầu đến cuối, bảy chữ mỗi vế, về một cảnh rất đời thường trong nhà, rồi chữa một đôi câu đối mắc lỗi điển hình. Mọi câu đối trong bài đều là mẫu tự soạn để minh hoạ cách làm.
Trước khi viết chữ đầu tiên
Năm câu hỏi nên trả lời trước, vì chúng quyết định gần hết những lựa chọn phía sau:
- Dịp gì: Tết, mừng thọ, cưới, nhà mới, hay đơn giản là một đôi treo phòng học của con. Dịp quyết định giọng: vui, trang trọng hay ấm áp.
- Ai đọc: chỉ người trong nhà, hay khách khứa đông. Người đọc quyết định mức dùng từ Hán Việt và độ bóng bẩy.
- Treo ở đâu, viết trên gì: khổ giấy hẹp chỉ hợp câu ngắn; thiệp nhỏ hợp bốn đến năm chữ; cột nhà, cửa chính chứa được bảy chữ trở lên.
- Dài bao nhiêu: người mới nên chọn bốn hoặc bảy chữ một vế, không chia đoạn. Câu đối nhiều đoạn để khi đã chắc tay.
- Muốn nói điều gì riêng: một chi tiết thật của gia đình hay người nhận, như mảnh vườn mẹ chăm, nghề của cha, đứa cháu đầu lòng. Chi tiết riêng là thứ làm câu đối không giống mọi câu đối khác.
Trong bài mẫu, các câu trả lời là: một đôi câu đối treo ở góc học tập của con, người đọc là cả nhà, bảy chữ mỗi vế, ý riêng là cảnh con học khuya và mẹ dậy sớm nấu cơm.
Bước một: tìm một ý có hai mặt
Câu đối đối ý, nên ý ban đầu phải có hai mặt để chia cho hai vế. Hai mặt đó có thể bổ sung nhau (đêm và ngày, cha và mẹ, trong nhà và ngoài ngõ) hoặc tương phản nhau (khó và sướng, xưa và nay). Câu đối trong gia đình gần như luôn dùng hai mặt bổ sung.
Ý trong bài mẫu là sự chăm chỉ trong một nhà. Hai mặt bổ sung: đêm khuya con ngồi học, sáng sớm mẹ dậy nấu cơm. Hai cảnh này đối nhau rất tự nhiên ở nhiều tầng: khuya đối sớm, con đối mẹ, đèn đối bếp, sách đối cơm. Khi ý đã có sẵn nhiều cặp đối như vậy, phần chữ sẽ dễ hơn rất nhiều.
Một phép thử nhanh: liệt kê ra giấy những cặp từ đối nhau có trong ý của bạn. Nếu liệt kê được bốn, năm cặp, ý đó đủ giàu cho một đôi bảy chữ. Nếu chỉ được một hai cặp, hoặc là ý quá chung chung, hoặc là bạn nên làm câu ngắn bốn chữ.
Cũng ở bước này, hãy loại bỏ những ý dễ thành lời hứa hay lời phán, như “năm nay chắc chắn giàu to”. Câu đối là lời chúc, lời ghi nhận, không phải lời cam kết thay số phận.
Bước hai: viết vế trên, kết bằng chữ thanh trắc
Viết vế trên trước, và ngay từ đầu nhắm chữ cuối vào một chữ thanh trắc. Đây là chỗ hay hỏng nhất nên xử lý trước. Với cảnh con học khuya, một vế trên có thể là: “Đèn khuya soi sách, con chăm chữ”. Bảy chữ, ngắt nhịp 4 – 3, chữ cuối “chữ” mang thanh ngã là trắc.
Soát tiếp các vị trí chẵn của vế trên: “khuya” (bằng), “sách” (trắc), “chăm” (bằng). Ba vị trí luân phiên bằng – trắc – bằng, rồi kết trắc. Như vậy vế trên vừa đúng luật chữ cuối vừa có nhạc như một câu thơ bảy chữ. Nếu vế trên chưa đạt ở bước này, đừng sang vế dưới; mọi lỗi của vế trên sẽ kéo theo vế dưới.
Cũng nên ghi ra cấu trúc từ loại của vế trên, vì vế dưới sẽ phải bám theo: Đèn (danh) khuya (tính, chỉ thời gian) soi (động) sách (danh), con (danh) chăm (động) chữ (danh). Đây chính là cái khuôn bạn sẽ đổ chữ vào ở vế dưới.
Nếu loay hoay mãi không có chữ cuối thanh trắc hợp ý, hãy đổi trật tự câu. Tiếng Việt khá linh hoạt: “con chăm chữ” có thể thành “con học bài” hay “sách con đọc”, mỗi cách cho một chữ cuối khác. Thử vài trật tự trước khi thay ý.
Bước ba: dựng khung vế dưới
Trước khi tìm chữ, kẻ một bảng: mỗi vị trí của vế trên, ghi từ loại và thanh, rồi ghi luôn yêu cầu cho vế dưới. Bảng biến việc “nghĩ ra câu” thành việc điền từng ô.
| Vị trí | Vế trên | Từ loại, thanh | Vế dưới cần | Ý muốn đặt vào |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Đèn | danh, bằng | danh, thanh tuỳ ý | đồ vật buổi sáng |
| 2 | khuya | tính, bằng | tính, trắc | thời gian đối với khuya |
| 3 | soi | động, bằng | động, thanh tuỳ ý | việc làm với đồ vật ở ô 1 |
| 4 | sách | danh, trắc | danh, bằng | thứ được làm ra |
| 5 | con | danh, bằng | danh, thanh tuỳ ý | người đối với con |
| 6 | chăm | động, bằng | động, trắc | việc người đó làm |
| 7 | chữ | danh, trắc | danh, bằng (bắt buộc) | đối tượng của việc |
Nhìn bảng, vế dưới đã hiện hình: một đồ vật buổi sáng, một chữ chỉ thời gian thanh trắc, một động từ, một danh từ thanh bằng, rồi một người, một động từ thanh trắc, một danh từ thanh bằng.
Bước bốn: điền chữ và thử nhiều phương án
Đồ vật buổi sáng đối với “đèn”: bếp, nồi, chổi. Chọn “bếp” vì gắn với mẹ. Chữ thời gian thanh trắc đối “khuya”: “sớm” (thanh sắc) là cặp tự nhiên nhất. Động từ đi với bếp: thổi, nhóm, đỏ. Danh từ thanh bằng ở ô thứ tư: “cơm” (bằng) đi với “thổi” thành “thổi cơm”. Đoạn đầu vế dưới: “Bếp sớm thổi cơm”.
Đoạn sau: người đối với “con” là “mẹ”. Động từ thanh trắc ở ô sáu: dặn, gọi, giục. Danh từ thanh bằng ở ô bảy: tên, con, lời. Thử vài tổ hợp: “mẹ dặn lời” nghe hơi gượng; “mẹ giục con” lặp chữ “con” của vế trên; “mẹ gọi tên” tự nhiên, gợi cảnh mẹ gọi con dậy. Chọn “mẹ gọi tên”.
Đôi câu đối hoàn chỉnh, mẫu tự soạn: “Đèn khuya soi sách, con chăm chữ / Bếp sớm thổi cơm, mẹ gọi tên”. Đọc lại ý: đêm con học, sáng mẹ gọi; con lo chữ nghĩa, mẹ lo bữa ăn và lo đánh thức con. Hai vế bổ sung nhau thành một cảnh nhà trọn vẹn.
Nên giữ lại các phương án đã loại trên giấy nháp. Đôi khi đọc lại sau một ngày, một phương án bị loại lại hay hơn, hoặc gợi ra một chữ thứ ba tốt hơn cả hai.
Bước năm: soát đủ bốn luật và đọc to
Soát theo thứ tự từ chỗ dễ hỏng nhất:
- Số chữ và nhịp: hai vế đều bảy chữ, đều ngắt 4 – 3, dấu phẩy cùng vị trí.
- Chữ cuối: “chữ” thanh ngã là trắc, “tên” không dấu là bằng. Đúng.
- Vị trí chẵn: khuya (bằng) – sớm (trắc); sách (trắc) – cơm (bằng); chăm (bằng) – gọi (trắc). Cả ba vị trí đều đối.
- Từ loại: đèn – bếp, khuya – sớm, soi – thổi, sách – cơm, con – mẹ, chăm – gọi, chữ – tên. Danh đối danh, tính đối tính, động đối động.
- Ý: tương hỗ, không lặp; vế dưới thêm được cảnh buổi sáng và hình ảnh người mẹ.
- Trùng chữ: không có chữ nào xuất hiện ở cả hai vế.
- Đọc to hai ba lần, nhờ một người khác trong nhà đọc thử. Chỗ nào người đọc vấp là chỗ cần xem lại.
Một đôi câu đối qua được cả bảy bước soát này là đủ chuẩn để chép lên giấy đỏ hay viết vào thiệp. Ghi rõ người soạn ở lạc khoản nếu muốn.
Chữa một đôi câu đối mắc lỗi
Đôi ban đầu: “Xuân về hoa nở khắp nơi / Tết đến nhà nhà sum họp”. Ý vui, nhưng nhìn chữ cuối thì vế đầu kết “nơi” (bằng), vế sau kết “họp” (trắc): thứ tự vế bị ngược. Đổi thứ tự cũng chưa xong, vì từ loại lệch: “hoa nở” (danh + động) không đối “nhà nhà” (danh lặp), “khắp nơi” không đối “sum họp”.
Hướng chữa: giữ ý Tết đoàn tụ, chọn hai mặt cụ thể hơn: trong nhà có tiếng trẻ con, ngoài ngõ có lời người già chúc nhau. Dựng lại thành bảy chữ.
Đôi đã chữa, mẫu tự soạn: “Tết đến nhà nhà vui tiếng trẻ / Xuân về ngõ ngõ ấm lời ông”. Tết đối xuân, đến đối về, nhà nhà đối ngõ ngõ (lặp có chủ ý ở cùng vị trí), vui đối ấm, tiếng đối lời, trẻ đối ông.
Soát thanh: đến (trắc) – về (bằng), nhà (bằng) – ngõ (trắc), tiếng (trắc) – lời (bằng), trẻ (trắc) – ông (bằng). Vế trên kết trắc, vế dưới kết bằng, các vị trí chẵn đều đối.
Bài học: lỗi của đôi ban đầu không nằm ở ý mà ở chỗ viết theo cảm hứng rồi mới soát. Làm theo năm bước, dựng khung trước rồi điền chữ, sẽ tránh được phần lớn những lỗi như vậy.
Thêm hoành phi cho đôi câu đối vừa làm
Nếu đôi câu đối sẽ treo thành bộ, bạn có thể thêm một hoành phi ở giữa, phía trên. Hoành phi không có luật đối, chỉ cần ngắn, thường ba hoặc bốn chữ, và gói được ý chung của hai vế. Nó giống cái tên của bức tranh mà hai vế là nội dung.
Với đôi “Đèn khuya soi sách, con chăm chữ / Bếp sớm thổi cơm, mẹ gọi tên”, ý chung là sự chăm chỉ và tình thương trong một nhà. Vài phương án hoành phi, mẫu tự soạn: “Nếp nhà ấm áp”, “Chăm học thương nhà”, “Sớm khuya có nhau”. Mỗi phương án nhấn một mặt khác: nếp nhà, việc học, hay sự gắn bó. Chọn cái nào là tuỳ bạn muốn người xem nhớ điều gì nhất khi nhìn lên.
Hai điều nên tránh: hoành phi lặp nguyên chữ của câu đối, làm cả bộ thừa chữ; và hoành phi chọn giọng khác hẳn hai vế, như câu đối ấm áp mà hoành phi lại khẩu hiệu cứng. Với câu đối quốc ngữ, hoành phi quốc ngữ đọc từ trái sang phải, và vế trên nên treo cùng phía với chữ đầu hoành phi để cả bộ đọc thuận một chiều.
Nếu không chắc, cứ để câu đối đứng một mình. Một đôi câu đối tốt không cần hoành phi vẫn trọn ý; một hoành phi chọn vội có khi làm loãng đi.
Câu hỏi thường gặp
Không giỏi văn có tự làm câu đối được không?
Được. Câu đối đúng luật chủ yếu cần sự cẩn thận: đếm chữ, soát thanh, ghép đúng từ loại. Những thứ đó ai cũng học được trong vài buổi. Sự khéo léo đến dần qua luyện tập, và một chi tiết thật của gia đình thường có giá trị hơn mọi chữ hoa mỹ.
Nên bắt đầu bằng câu đối mấy chữ?
Nên bắt đầu bằng bốn chữ mỗi vế, không chia đoạn. Khi đã quen soát thanh và từ loại, chuyển sang bảy chữ ngắt 4 – 3 hoặc 2 – 2 – 3. Câu đối dài nhiều đoạn chỉ nên thử khi đã làm chắc tay vài đôi bảy chữ.
Có nên dùng máy để gợi ý câu đối không?
Có thể dùng để gợi ý từ đồng nghĩa hoặc cặp từ đối nhau, nhưng đừng chép nguyên câu máy đưa ra. Máy hay sai thanh chữ cuối, đối từ loại lệch và dễ cho ra những câu sáo. Hãy coi gợi ý của máy như một cuốn từ điển, còn khung và ý là của bạn.
Câu đối tự soạn có cần ghi “mẫu tự soạn” khi treo không?
Khi treo trong nhà hay tặng người thân thì không cần, bạn có thể ghi tên mình ở lạc khoản. Ghi “mẫu tự soạn” là cần khi bạn đăng câu đối ở nơi công cộng như mạng xã hội, bài viết, để người đọc không nhầm đó là câu đối cổ hay câu của danh nhân.
Làm sao biết câu đối mình làm có hay không?
Đúng bốn luật là điều kiện cần. Để biết có hay không, đọc cho người khác nghe mà không giải thích gì. Nếu họ hiểu ngay ý và có một khoảnh khắc mỉm cười hay gật đầu, câu đối đã chạm được người đọc. Nếu họ phải hỏi lại nghĩa, có thể câu còn gượng.
Lặp chữ giữa hai vế có bị coi là lỗi không?
Lặp một chữ ở hai vế mà không có chủ ý thường bị coi là lỗi, vì làm câu đối nghèo chữ. Nhưng lặp có chủ ý, như “nhà nhà” đối “ngõ ngõ”, hay cùng lặp một chữ ở cùng vị trí trong cả hai vế, lại là một thế đối được chấp nhận và đôi khi rất khéo.