CauChuc.comCâu Chúc
Câu đối: hiểu từ gốc

Giai thoại câu đối Việt: ra vế, đối vế và những thế chơi chữ đáng nhớ

Từ chuyện Mạc Đĩnh Chi đi sứ đến vế “Da trắng vỗ bì bạch”, giai thoại câu đối cho thấy cách người Việt chơi chữ. Bài kể, giải nghĩa và tách giai thoại khỏi sử liệu.

Evening scene in a rural courtyard in Thanh Hoa, grandfather and two children seen from behind sitting on a bamboo bed under a lantern, starry sky, rice field silhouettes

Giai thoại câu đối là những câu chuyện kể về cảnh một người ra vế, người khác đối lại, thường để thử tài, để đáp trả hay để bày tỏ một điều khó nói thẳng. Cái hay của chúng nằm ở thế chơi chữ: dùng chữ Hán và chữ Việt cùng nghĩa, chữ đồng âm, hình ảnh thiên văn, tên người tên đất lồng vào câu.

Phần lớn những chuyện này là giai thoại, tức được truyền miệng và chép lại trong sách về sau, chứ không phải sử liệu có thể kiểm chứng. Bài này kể lại vài giai thoại quen thuộc nhất, giải nghĩa từng thế chơi chữ, rồi bàn cách đọc giai thoại cho tỉnh: thưởng thức cái tài của chữ, nhưng không coi mọi chi tiết là chuyện đã xảy ra.

Ra vế và đối vế: một nếp chơi của người có chữ

Trong lối học xưa, ra vế và đối vế là bài tập hằng ngày. Thầy ra một vế, trò đối lại; vế ra càng hiểm, vế đối càng phải khéo. Từ lớp học, thói quen ấy đi ra đời sống: bạn bè gặp nhau ra vế thử tài, người đi đường ra vế cho đứa trẻ chăn trâu, quan khách ra vế trong tiệc rượu. Đối được là nở mày nở mặt, không đối được thì chịu thua một keo.

Vế ra thường được dựng sẵn một cái bẫy: một từ có hai nghĩa, một cặp chữ Hán – Việt đồng nghĩa, một cái tên lồng vào câu, sao cho người đối phải tìm được chữ có đúng cái mẹo tương tự ở vị trí tương ứng. Vì thế, đối vế không chỉ là tìm chữ đúng thanh, đúng từ loại, mà là giải được cái mẹo người ra vế đã giấu.

Giai thoại câu đối hay được gắn với những người nổi tiếng thông minh: các trạng nguyên, các nhà nho có tiếng, các nữ sĩ. Có khi một chuyện được kể về hai, ba người khác nhau, đổi bối cảnh mà vế đối vẫn giữ nguyên. Điều đó cho thấy người kể yêu cái câu đối hơn là bận tâm ai thật sự nói ra nó.

Mạc Đĩnh Chi đi sứ: mặt trời và mặt trăng

Một giai thoại được kể nhiều nhất gắn với Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên đời Trần, trong chuyến đi sứ phương Bắc. Theo giai thoại, phía nhà Nguyên ra vế: “Nhật hoả vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thố”, nghĩa là mặt trời là lửa, mây là khói, giữa ban ngày đốt cháy thỏ ngọc. Thỏ ngọc là cách gọi mặt trăng.

Người kể thường giải thích rằng vế ra ngầm ví nước lớn là mặt trời, nước nhỏ là mặt trăng bị thiêu cháy. Mạc Đĩnh Chi đối: “Nguyệt cung tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô”, nghĩa là mặt trăng là cây cung, sao là viên đạn, lúc chiều tối bắn rơi quạ vàng. Quạ vàng là cách gọi mặt trời. Vế đối không chỉ đúng luật mà còn lật ngược hình ảnh: mặt trăng bắn rơi mặt trời.

Về luật, đôi này chặt chẽ: nhật đối nguyệt, hoả đối cung, vân đối tinh, yên đối đạn, bạch đán (ban ngày) đối hoàng hôn (chiều tối), thiêu tàn (đốt cháy) đối xạ lạc (bắn rơi), ngọc thố đối kim ô. Chữ cuối “thố” mang thanh sắc là trắc, “ô” không dấu là bằng. Mỗi vế chia hai đoạn bốn và sáu chữ.

Câu chuyện có nhiều dị bản về người ra vế và hoàn cảnh. Sử liệu xác nhận Mạc Đĩnh Chi đỗ trạng nguyên và từng đi sứ, nhưng chi tiết cuộc đối đáp thì thuộc về giai thoại. Khi kể lại, nói “tương truyền” là cách vừa giữ được cái hay vừa không làm sai sử.

“Da trắng vỗ bì bạch”: chơi chữ đồng nghĩa Hán – Việt

Một vế ra nổi tiếng vì cái mẹo tinh quái: “Da trắng vỗ bì bạch”. Giai thoại thường gắn vế này với bà Đoàn Thị Điểm, còn người đối thì mỗi bản kể một khác. Mẹo nằm ở chỗ “bì” trong Hán Việt nghĩa là da, “bạch” nghĩa là trắng. Thế là ba chữ cuối “vỗ bì bạch” vừa là tiếng vỗ lên da nghe bì bạch, vừa lặp lại nghĩa “da trắng” bằng chữ Hán.

Vế đối được truyền tụng là “Rừng sâu mưa lâm thâm”. “Lâm” là rừng, “thâm” là sâu; “lâm thâm” lại là từ tả mưa nhỏ dai dẳng. Vế đối giải đúng cả ba lớp mẹo: chữ Việt đầu câu (rừng sâu) được lặp nghĩa bằng chữ Hán cuối câu (lâm thâm), và cụm Hán ấy lại là một từ tiếng Việt có nghĩa riêng hợp với động từ đứng trước (mưa lâm thâm).

Về luật, “bạch” mang thanh nặng là trắc, “thâm” không dấu là bằng; da đối rừng, trắng đối sâu, vỗ đối mưa. Đôi này hay được dẫn làm ví dụ tiêu biểu cho lối chơi chữ đồng nghĩa Hán – Việt, một thế chơi chỉ có thể có trong tiếng Việt, nơi chữ Hán Việt và chữ thuần Việt sống cạnh nhau.

Muốn thấy cái khó, bạn thử tự tìm một vế đối khác cho “Da trắng vỗ bì bạch”. Bạn sẽ cần một cặp chữ Việt – Hán đồng nghĩa mà cụm Hán đó đồng thời là một từ láy tiếng Việt có nghĩa hợp câu. Những cặp như thế rất hiếm, và đó là lý do vế đối kia được nhớ đến hôm nay.

Thế lật ý: đối đúng luật mà xoay ngược thông điệp

Trong nhiều giai thoại, vế đối được khen không chỉ vì đúng luật mà vì nó xoay ngược ý của vế ra. Người ra vế dựng một hình ảnh có ngụ ý chê bai hay thách thức; người đối giữ nguyên khung chữ, giữ nguyên loại hình ảnh, nhưng đặt các chữ sao cho thông điệp quay về phía mình. Giai thoại Mạc Đĩnh Chi là ví dụ rõ: cùng nói chuyện mặt trời và mặt trăng, vế ra để mặt trời đốt mặt trăng, vế đối để mặt trăng bắn rơi mặt trời.

Thế lật ý khó hơn đối thường ở chỗ người đối không được tự chọn đề tài. Khung đã có, loại hình ảnh đã có, nhịp đã có; chỗ duy nhất để xoay là chọn ai làm chủ thể và hành động đi theo hướng nào. Vì thế, khi đọc một vế đối kiểu này, bạn nên so từng cặp chữ để thấy người đối đã “mượn” khung của đối phương khéo đến đâu.

Với câu đối trong đời sống hôm nay, thế lật ý ít khi cần đến, vì câu đối mừng, câu đối Tết vốn không có ai để đáp trả. Nhưng hiểu thế này giúp bạn đọc giai thoại sâu hơn, và đôi khi dùng được trong những lần đối đáp vui giữa bạn bè, miễn là giữ được sự nhã nhặn.

Những thế chơi chữ hay gặp trong câu đối

Đồng nghĩa Hán – Việt: đặt chữ thuần Việt và chữ Hán Việt cùng nghĩa trong một vế, như “da trắng” và “bì bạch”. Vế đối phải có cặp tương tự.

Đồng âm khác nghĩa: một chữ đọc lên mang hai nghĩa, một nghĩa theo câu, một nghĩa ngầm. Thế này phổ biến trong câu đối trào phúng.

Nói lái: đảo phụ âm đầu hoặc vần giữa hai chữ để lộ ra một cụm khác. Câu đối nói lái thường hóm hỉnh, có khi sâu cay.

Chiết tự: tách một chữ Hán thành các bộ phận, hoặc ghép bộ phận thành chữ, rồi dùng chính việc tách ghép đó làm nội dung vế đối. Đây là thế khó, đòi hỏi vốn chữ Hán vững.

Lồng tên: giấu tên người, tên đất, tên vị thuốc, tên con vật, tên quẻ vào câu sao cho câu vẫn có nghĩa thường. Vế đối phải giấu một loạt tên cùng nhóm.

Hình ảnh thiên văn, tự nhiên: như mặt trời mặt trăng, gió mây, núi sông, dùng làm ẩn dụ cho người và việc, như giai thoại Mạc Đĩnh Chi.

Từ láy tượng thanh: dùng tiếng động như bì bạch, lâm thâm, rả rích vừa tả âm thanh vừa mang thêm một tầng nghĩa khác.

Đọc giai thoại câu đối sao cho tỉnh

Giai thoại câu đối là một kho văn hoá quý, nhưng không phải là sử. Nhiều chuyện chỉ xuất hiện trong sách chép về sau, cách sự kiện hàng trăm năm. Có chuyện gán cho người này, sách khác gán cho người kia. Có câu đối hay được ghép thêm một bối cảnh kịch tính cho dễ nhớ. Điều này không làm câu đối kém hay đi, chỉ nhắc chúng ta đừng dùng giai thoại để khẳng định sự kiện lịch sử.

Khi trích một câu đối giai thoại, có ba thói quen tốt. Thứ nhất, ghi “tương truyền” hoặc “theo giai thoại” trước tên người. Thứ hai, nếu biết có dị bản, ghi chú một câu. Thứ ba, tách rõ phần câu đối, vốn được nhiều nguồn chép giống nhau, với phần câu chuyện quanh nó, vốn hay thay đổi.

Với câu đối dân gian không rõ tác giả, ghi “câu đối dân gian” là đủ. Đừng tự gán tên một danh nhân cho câu đối để tăng sức nặng; việc đó làm rối thêm kho giai thoại vốn đã rối, và người đọc sau sẽ chép lại cái sai của mình.

Tập ra vế, đối vế trong nhà

Nếp ra vế, đối vế có thể sống lại trong những buổi tối gia đình, nhất là khi trẻ đang học tiếng Việt. Dưới đây là vài cặp mẫu tự soạn, từ dễ đến khó hơn, để người lớn ra vế trên và trẻ thử đối.

Vế ra (mẫu tự soạn)Một vế đối gợi ý (mẫu tự soạn)Luyện điều gì
Gà gáy sángChó canh đêmCon vật đối con vật, động từ đối động từ, thời gian đối thời gian
Nhà vui con thảoCửa ấm cháu hiềnĐối chỉnh từng chữ, chữ cuối trắc – bằng
Trăng tròn soi ngõ nhỏGió nhẹ thổi hiên xaĐối tính từ, động từ, câu năm chữ
Đèn khuya soi sáchBếp sớm thổi cơmĐối cảnh sinh hoạt, khuya đối sớm

Không cần chấm đúng sai cho trẻ. Người lớn và trẻ soát chung thanh chữ cuối, đếm chữ chung, và khen những vế đối có ý riêng dù chưa chỉnh. Mục đích là để trẻ thấy tiếng Việt có nhạc và có những cặp chữ đẹp, không phải để thi thố.

Khi đã quen, người lớn có thể ra vế có chút mẹo, như lặp chữ có chủ ý, để trẻ tìm cách giữ đúng mẹo đó ở vế đối.

Câu hỏi thường gặp

Giai thoại Mạc Đĩnh Chi đối câu đối với sứ nhà Nguyên có thật không?

Mạc Đĩnh Chi là nhân vật lịch sử có thật, đỗ trạng nguyên đời Trần và từng đi sứ phương Bắc. Còn chi tiết cuộc đối đáp bằng câu đối thì thuộc về giai thoại, có nhiều dị bản về người ra vế và hoàn cảnh. Khi kể, nên ghi rõ là tương truyền.

Vế “Da trắng vỗ bì bạch” khó đối ở chỗ nào?

Khó vì vế này có ba lớp mẹo cùng lúc: “da trắng” là chữ Việt, “bì bạch” là chữ Hán cùng nghĩa, và “bì bạch” lại là từ tượng thanh tiếng vỗ. Vế đối phải có một cặp Việt – Hán đồng nghĩa mà cụm Hán đó cũng là từ tiếng Việt hợp nghĩa câu, như “rừng sâu” và “lâm thâm”.

Chiết tự là gì?

Chiết tự là tách một chữ Hán thành các bộ phận cấu thành, hoặc ghép bộ phận thành chữ, rồi dùng chính phép tách ghép đó để tạo nghĩa. Trong câu đối, chiết tự là thế chơi chữ khó, vì vế đối phải tìm một chữ Hán khác có thể tách ghép theo cùng kiểu.

Câu đối nói lái có hợp để treo trong nhà không?

Phần lớn không. Câu đối nói lái thường mang tính trào phúng, nghĩa ngầm có khi tục hoặc châm chọc, hợp để đọc và truyền miệng hơn là treo nơi trang trọng. Nếu muốn dùng lối chơi chữ trong nhà, chọn thế đồng nghĩa hay lồng tên với nội dung thanh nhã.

Có sách nào tập hợp giai thoại câu đối không?

Có nhiều tuyển tập câu đối và giai thoại văn học được xuất bản ở Việt Nam, cùng các sách văn học sử có phần bàn về câu đối. Khi đọc, nên chọn sách có ghi nguồn và có chú thích dị bản, và đọc so sánh hai ba cuốn để thấy những chỗ các bản kể khác nhau.

Làm sao tự nghĩ ra một vế ra có mẹo?

Bắt đầu từ một mẹo đơn giản như lặp chữ có chủ ý hoặc ghép hai từ đồng nghĩa Việt – Hán. Viết vế ra xong, hãy thử tự đối trước. Nếu chính mình không đối được, vế ra có thể quá hiểm; nếu đối quá dễ, mẹo chưa đủ hay. Vế ra tốt là vế đối được, nhưng phải nghĩ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183